BÀI 1: SỐNG ĐỨC TIN LÀ LẮNG NGHE TIẾNG GỌI
CỦA CHÚA VÀ RA ĐI
Trong hành trình đức tin của con người, nhất là của
người tu sĩ, Thiên Chúa luôn là người sáng kiến và kêu gọi đầu tiên. Thiên Chúa
là Đấng luôn tỏ mình ra cho con người dưới hình thức này hay hình thức khác:
người thì Ngài tỏ ra qua tiếng gọi, người thì Ngài tỏ mình ra qua ánh lửa,
người khác Ngài lại tỏ mình ra qua ánh sao lạ… Ngài tỏ mình theo khả năng, lối sống
và hoàn cảnh của từng người. Và Ngài gọi tất cả mọi người, không trừ ai. Ai
nghe tiếng Ngài thì đáp lại, tuỳ theo cách của mình. Sống đức tin là lắng nghe
và đáp lại bằng chính cuộc đời của mình.
I.
THIÊN CHÚA GỌI TRONG LỊCH SỬ CỨU ĐỘ
Suốt dòng lịch sử cứu độ là một lời mời gọi của một
Thiên Chúa đi kiếm con người. Tiếng gọi đó bắt đầu từ Adam và sau cùng đậu lại
nơi một con người, Đức Giêsu Kitô, Con Một Thiên Chúa, mà tột đỉnh là thập giá
Chúa Kitô. Thập giá là tiếng gọi hùng hồn nhất của Thiên Chúa đến với con người,
có khả năng thúc bách và giải thoát chúng ta để đưa chúng ta vào con đường vâng
phục trong đức tin.
1. Thiên Chúa gọi
Adam, con người
Sau khi không vâng phục
Thiên Chúa, Adam (con người) cảm thấy xấu hổ và chạy ẩn trốn Thiên Chúa. Nhưng
Thiên Chúa do tình thương của Ngài đã đi kiếm con người và gọi : "Ngươi ở đâu?
" (St 3,9) Ngài gọi Adam không phải để kết án nhưng là để nói lên rằng dù
con người có phạm tội do bị Ma Quỷ dụ dỗ Thiên Chúa không bao giờ bỏ nó, trái lại
Ngài yêu thương và yêu thương nó hơn nữa, Ngài muốn nói chuyện với nó, nghe tiếng
nó.
2. Abraham
Sau khi con người sa ngã, để thực hiện chương trình
cứu độ, có thể nói người được gọi đầu tiên trong lịch sử cứu độ là Abraham.Kinh
Thánh nói:ĐỨC CHÚA phán với ông Áp-ram: "Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và
nhà cha ngươi, mà đi tới đất Ta sẽ chỉ cho ngươi. Ta sẽ làm cho ngươi thành một
dân lớn, sẽ chúc phúc cho ngươi. Ta sẽ cho tên tuổi ngươi được lẫy lừng, và
ngươi sẽ là một mối phúc lành. Ta sẽ chúc phúc cho những ai chúc phúc cho
ngươi; Ai nhục mạ ngươi, Ta sẽ nguyền rủa. Nhờ ngươi, mọi gia tộc trên mặt đất
sẽ được chúc phúc." (St 12,1-3)Và Abraham ra đi. Khởi sự cho hành
trình của Abraham là một tiếng gọi của Chúa, một dấu lạ.
3. Môisê
Chúa tỏ cho Môisê qua bụi gai rực cháy mà không rụi:
một dấu lạ khiến Môisê tò mò lại xem. Sách Xuất Hành trình thuật: “Bấy giờ
ông Mô-sê đang chăn chiên cho bố vợ là Gít-rô, tư tế Ma-đi-an. Ông dẫn đàn
chiên qua bên kia sa mạc, đến núi của Thiên Chúa, là núi Khô-rếp. Thiên sứ của
ĐỨC CHÚA hiện ra với ông trong đám lửa từ giữa bụi cây. Ông Mô-sê nhìn thì thấy
bụi cây cháy bừng, nhưng bụi cây không bị thiêu rụi. Ông tự bảo: "Mình
phải lại xem cảnh tượng kỳ lạ này mới được: vì sao bụi cây lại không cháy rụi?
" ĐỨC CHÚA thấy ông lại xem, thì từ giữa bụi cây Thiên Chúa gọi ông:
"Mô-sê! Mô-sê! " Ông thưa: "Dạ, tôi đây! " Người phán:
"Chớ lại gần! Cởi dép ở chân ra, vì nơi ngươi đang đứng là đất
thánh." Người lại phán: "Ta là Thiên Chúa của cha ngươi, Thiên Chúa
của Áp-ra-ham, Thiên Chúa của I-xa-ác, Thiên Chúa của Gia-cóp." Ông Mô-sê
che mặt đi, vì sợ nhìn phải Thiên Chúa.” (Xh 3,1-6)
4. Samuel
Chúa tỏ mình ra cho Samuel qua tiếng gọi, Ngài gọi tới
ba lần và nhờ thầy cả Ê-li, ông mới nhận ra tiếng Chúa. Kinh Thánh chép:
“Cậu bé Sa-mu-en phụng sự ĐỨC CHÚA, có ông Ê-li trông nom. Thời ấy, lời ĐỨC
CHÚA thì hiếm và thị kiến cũng không hay xảy ra. Một ngày kia, ông Ê-li đang
ngủ ở chỗ ông, mắt ông đã bắt đầu mờ, ông không còn thấy nữa. Đèn của Thiên
Chúa chưa tắt và Sa-mu-en đang ngủ trong đền thờ ĐỨC CHÚA, nơi có đặt Hòm Bia
Thiên Chúa. ĐỨC CHÚA gọi Sa-mu-en. Cậu thưa: "Dạ, con đây! " Rồi chạy
lại với ông Ê-li và thưa: "Dạ, con đây, thầy gọi con." Ông bảo:
"Thầy không gọi con đâu. Con về ngủ đi." Cậu bèn đi ngủ. ĐỨC CHÚA lại
gọi Sa-mu-en lần nữa. Sa-mu-en dậy, đến với ông Ê-li và thưa: "Dạ, con
đây, thầy gọi con." Ông bảo: "Thầy không gọi con đâu, con ạ. Con về
ngủ đi." Bấy giờ Sa-mu-en chưa biết ĐỨC CHÚA, và lời ĐỨC CHÚA chưa được
mặc khải cho cậu. ĐỨC CHÚA lại gọi Sa-mu-en lần thứ ba. Cậu dậy, đến với ông
Ê-li và thưa: "Dạ, con đây, thầy gọi con." Bấy giờ ông Ê-li hiểu là
ĐỨC CHÚA gọi cậu bé. Ông Ê-li nói với Sa-mu-en: "Con về ngủ đi, và hễ có
ai gọi con thì con thưa: "Lạy ĐỨC CHÚA, xin Ngài phán, vì tôi tớ Ngài đang
lắng nghe." Sa-mu-en về ngủ ở chỗ của mình. ĐỨC CHÚA đến, đứng đó và gọi
như những lần trước: "Sa-mu-en! Sa-mu-en! " Sa-mu-en thưa: "Xin
Ngài phán, vì tôi tớ Ngài đang lắng nghe." (ISm 1,1-10)
Ngài còn gọi nhiều vị khác nữa, theo những cách thức
khác nhau mà ta không thể liệt kê ra hết ở đây.
5. Với các nhà đạo sĩ
Thiên Chúa không
chỉ tỏ mình ra cho những người Do Thái, nhưng ý định ngàn đời của Ngài là tỏ
mình ra cho mọi người. Một trong những dấu hiệu cho thấy chuyện đó, ấy là Ngài
tỏ mình ra ra cho các nhà đạo sĩ qua ánh sao lạ xuất hiện trên bầu trời. Tin
Mừng thuật lại: « Chúng
tôi đa thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương Đông. » (Mt 2,2) Trước khi lên đường các ông đã thấy xuất hiện
một điềm lạ, một sao lạ trên bầu trời, nghĩa là trước khi bỏ quê hương để đi
tìm vị Vua mà ánh sao lạ muốn chỉ, các nhà đạo sĩ đã thấy dấu hiệu của sự hiện
diện Thiên Chúa.
6. Với người tu sĩ
Không ai bỏ xứ sở quê hương ra đi mà không được Thiên
Chúa tỏ mình ra trước. Ơn gọi luôn là một sáng kiến từ Thiên Chúa và con người
chỉ đáp lại: “không ai đến với Thầy được, nếu Chúa Cha không ban ơn ấy cho."
(Ga 6,65). Các đạo sĩ không tìm đến với Chúa Giêsu được nếu Chúa Cha không tỏ
ra cho họ thấy điềm lạ. Đối với ơn gọi của người tu sĩ cũng thế : ơn gọi bao
giờ cũng phát xuất từ Thiên Chúa. Ơn gọi của mỗi người chúng ta bắt đầu từ sáng
kiến của Thiên Chúa, và như thế ta có thể nói ơn gọi của chúng ta, hành trình
đức tin của chúng ta khởi đi từ một kinh nghiệm nào đó, theo cách riêng của mỗi
người, về Thiên Chúa. Có thể nói không có kinh nghiệm một chút về Thiên Chúa
trước khi lên đường thì không nên dấn thân. Chỉ cần một chút thôi, có thể là lờ
mờ, nhưng phải có. Nếu không chúng ta sẽ làm một chuyện vu vơ, thấy người ta đi
mình cũng đi theo, mà không biết tại sao tôi theo, vì tôi đâu có kinh nghiệm gì
về Thiên Chúa. Có thể lúc đầu chúng ta thấy thoáng qua cách nào đó, nhưng dần
dần với sự giúp đỡ của bề trên, của dì giáo, của cha linh hướng, chúng ta thấy
rõ (trong đức tin) Đấng mà ta bỏ tất cả để đi theo. Thiên Chúa tỏ mình ra cho
mỗi người theo những cách thức khác nhau, không ai giống ai.
1) Thiên Chúa tỏ mình ra:
Thiên Chúa tỏ mình ra qua nhiều cách, và con người
phải khám phá ra cho bằng được trước khi làm một quyết định. Ta có thể tóm lại
mấy phương thế sau đây, qua đó Thiên Chúa đến tỏ mình ra cho con người :
- Lời Ngài : Thứ nhất Ngài tỏ mình ra qua
lời của Ngài. Mà lời của Ngài được tỏ ra cách cụ thể qua cuốn Kinh Thánh. Toàn
bộ Sách Thánh là lời của Thiên Chúa nói với con người. Mặt khác đó không chỉ là
lời của Ngài mà còn là chính Ngài. Vì thế khi chúng ta đọc Kinh Thánh là chúng
ta nói chuyện trực tiếp với Thiên Chúa . Khuôn mặt của Thiên Chúa tỏ lộ trong
Kinh Thánh. Khuôn mặt đó tỏ lộ nơi khuôn mặt của Chúa Kitô, Ngôi Lời nhập thể.
Đọc Kinh Thánh khác với đọc những cuốn sách khác. Đọc Kinh Thánh ta sẽ thấy
Chúa Kitô tỏ mình ra cho ta, ta sẽ nghe tiếng nói của Ngài …. nếu chúng ta thực
sự muốn nghe tiếng Ngài.
- Thâm tâm : Thiên Chúa cũng có thể tỏ
mình ra cho chúng ta ngay nơi sâu thẳm của mỗi người chúng ta, bởi vì mỗi người
chúng ta là đền thờ của Thiên Chúa. Thánh Phaolô nói: “Nào anh em chẳng biết
rằng anh em là Đền Thờ của Thiên Chúa, và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong anh
em sao” (I Cr 3,16) Vì thế để có thể nghe được tiếng Chúa, muốn gặp Ngài, mỗi
người phải thường xuyên trở về với lòng mình, về nơi thâm sâu lòng mình. Để
được vậy cần phải có thinh lặng. Khi nào cần nói thì nói; khi nào không cần thì
thôi. Thinh lặng cần cho sự hồi tâm, cho sự trở về với lòng mình, cho sự lắng
nghe và gặp gỡ
- Tha nhân : Khuôn mặt
của anh chị em mình chính là khuôn mặt của Thiên Chúa. Vì thế làm cho một người
nào đó là làm cho Chúa. Chúa Giêsu nói: “Mỗi lần các ngươi làm như thế cho
một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta
vậy” (Mt 25,40) Không bao giờ có thể cảm nghiệm thực sự về sự hiện diện của
Thiên Chúa, cảm nghiệm được khuôn mặt của Ngài nếu trong cuộc sống, ta không
sống yêu thương tha nhân. Tha nhân và Thiên Chúa gắn chặt với nhau. Thấy tha
nhân là thấy Thiên Chúa, không thấy tha nhân thì cũng không thấy Thiên Chúa.
Tiếng nói của anh chị em mình là tiếng nói của chính Thiên Chúa. Khước từ lời
nói của anh chị em mình là khước từ lời của Thiên Chúa.
- Biến cố trong cuộc đời: Thiên Chúa cũng
có thể nói qua những sự kiện, những biến cố trong cuộc đời của mình. Đó có thể
là một thành công, một niềm vui, nhưng đó cũng có thể là một thất bại, một nỗi
buồn, một mất mát… Nếu chúng ta để ý thì tất cả những biến cố đó trở thành
phương tiện tốt lành Thiên Chúa dùng để đến với chúng ta bởi vì Thiên Chúa có
thể dùng tất cả mọi chuyện để tỏ mình ra cho con người, ngay cả những cách bên
ngoài xem ra là xấu. Thiên Chúa có thể dùng cái xấu làm phương tiện cho Ngài.
Thập giá Chúa Kitô là một bằng chứng. Thập giá là một cái ác, nhưng Thiên Chúa
đã đùng để thực hiện chương trình cứu độ của Ngài, để tỏ bày tình thương của
Ngài.
2) Con người phải khám phá và đáp lại
Thiên Chúa tỏ mình ra nhiều cách và con người cũng
phái khám phá Thiên Chúa qua nhiều cách khác nhau tuỳ mỗi người
- Để ý :
Trước tiên mỗi người phải tập cho mình chú ý và quan
sát. Để ý khi làm việc, khi học hành, đọc sách, khi cầu nguyện,… cần tập chú ý
trong những chuyện nhỏ mọn: lời nói, tiếng cười, ăn uống, đi lại,… từ đó ta sẽ
hướng sự chú ý đến Thiên Chúa trong những hoạt động của mình. Một người không
chú ý đến những chuyện nhỏ thì cũng chẳng chú ý trong việc lớn. Chú ý đến chị
em cũng sẽ chú ý đến Thiên Chúa (chú ý ở đây phải hiểu là chú ý trong yêu
thương trưởng thành thực sự). Chúa đến tỏ mình cho chúng ta rất nhiều, có điều
chúng ta không nhận ra Ngài, bởi vì chúng ta thường để cho thời gian qua đi mà
không ý thức hoặc vì chúng ta bận tâm nhiều chuyện trần thế : làm việc, học hành,
…Đã hẳn chúng ta phải làm việc, học hành, nhưng con mắt của chúng ta không bao
giờ được rời xa Chúa, như một đứa bé dù nó có chơi gì gì đi nữa, mắt nó cũng
không bao giờ rời xa mẹ nó.
- Cầu nguyện
Một yếu tố quan trọng trong việc tìm kiếm thánh nhan
ngài, thánh ý Ngài, đó là cầu nguyện. Trong cầu nguyện ta có thể xin ơn này ơn
nọ. Nhưng có một ơn trước tiên mà chúng ta không bao giờ được quên trong khi
cầu nguyện, đó là xin Chúa ban cho ta chình mình Ngài, xin Ngài tỏ ánh tôn nhan
Ngài cho chúng ta, và xin như vậy suốt cả đời chứ không phải chỉ một hai ngày
mà thôi. Trong các thánh vịnh ta không ngừng nghe vang lên tiếng kêu xin đó.Tv
4,7: “Biết bao kẻ nói rằng: "Ai sẽ cho ta thấy hạnh phúc? "Lạy
CHÚA, xin toả ánh tôn nhan Ngài trên chúng con.” Tv31,17: « Xin toả
ánh tôn nhan rạng ngời trên tôi tớ Ngài đây, và lấy tình thương mà cứu độ. »
Tv67,2 : « Nguyện Chúa Trời dủ thương và chúc phúc, xin toả ánh tôn
nhan rạng ngời trên chúng con. » Tv 80,4: « Lạy Thiên Chúa,
xin phục hồi chúng con, xin toả ánh tôn nhan rạng ngời để chúng con được ơn cứu
độ ».Kế đó, điều thứ hai chúng ta phải xin là xin Ngài nói cho chúng
ta biết thánh ý Ngài, và chắc chắn Ngài sẽ tỏ cho chúng ta. Không sớm thì muộn
cách này hay cách khác Ngài sẽ chỉ cho ta điều mà Ngài muốn chúng ta sống, nếu
chúng ta thành tâm tìm kiếm thánh ý Ngài, nếu ngày đêm chúng ta nghe ngóng lời
của Ngài. Vì thế câu mà chúng ta lập đi lập lại trong kinh nguyện chính là câu
mà Samuel nói với Chúa : "Lạy ĐỨC CHÚA, xin Ngài phán, vì tôi tớ Ngài
đang lắng nghe." Ai khao khát thấy Thiên Chúa , người ấy sẽ thấy Ngài.
Ai khao khát nghe tiếng Ngài, kẻ ấy sẽ nghe được tiếng Ngài.
- Bàn hỏi
Bàn hỏi là yếu tố cần thiết cho những người mới chập
chững trong bước đường dấn thân trong đời sống tu trì. Thật ra cả một cuộc đời
dấn thân là một cuộc dò dẫm đi tìm thánh ý của Chúa. Vì thế chẳng những vào
những lúc khởi đầu ta mới bàn hỏi nhưng bàn hỏi cả đời. Bao lâu còn đi trên
đường lữ hành, bấy lâu còn bàn hỏi; vì bao lâu còn là con người bấy lâu còn dò
dẫm tìm kiếm và bàn hỏi. Tuy nhiên thời kỳ tập tu là thời kỳ cần có sự bàn hỏi
để nhận ra ý Chúa. Cậu Samuel không tự mình nhận ra ý Chúa dù Ngài gọi cậu đến
ba lần. Cậu phải nhờ đến thầy cả Ê-li để biết ý Chúa. Cũng như Samuel nhầm
tiếng Chúa với tiếng của Ê-li, người mới tu cũng có thể nhầm tiếng Chúa với
tiếng của ai đó. Vì thế cần có người kinh nghiệm giúp người mới tu biện phân
đâu là tiếng Chúa, đâu là tiếng của loài người.Nhưng để người hướng dẫn giúp
nhận ra ý Chúa, người mới tu cần có tâm hồn khiêm tốn, đơn sơ, cởi mở tâm hồn
để những người hữu trách có thể giúp mình.
- Quyết định
Khi đã biết ý định của Chúa rồi, chúng ta phải làm một
quyết định. Mỗi người phải quyết định cho ơn gọi của mình, không ai thay mình
quyết định cả. Và khi đã quyết định là phải dấn thân cho đến cùng, ít nhất là
trong quyết chí, với sự phó thác hoàn toàn cho thánh ý Thiên Chúa; Ngài muốn
lôi đi đâu tuỳ ý Ngài.
Tóm lại, sao lạ đã xuất hiện với các nhà đạo sĩ xưa,
giờ đây cũng tiếp tục xuất hiện trong cuộc đời của mỗi người chúng ta dưới hình
thức này hay hình thức khác. Ngài vẫn tiếp tục thu hút, lôi kéo chúng ta đi
theo Ngài. Ngài vẫn tiếp tục tỏ mình ra, tiếp tục nói với chúng ta. Nếu chúng
ta nghe tiếng Ngài, nếu chúng ta thấy ngài, thì chúng ta phải dám từ bỏ mọi sự
mà chạy theo Ngài.
II.
BỎ XỨ SỞ RA ĐI
Muốn khám phá một cái gì mới, muốn đi theo ai, muốn
tìm kiếm, chạy theo người mình yêu, phải chấp nhận một sự từ bỏ. muốn có một
cái gì mới, phải có một cuộc ra đi. Khi ta nghe tiếng Chúa ta phải chấp nhận ra
đi làm một hành trình đức tin.
1. Bỏ xứ sở ra đi của các nhà đạo sĩ
Các nhà đạo sĩ sau khi đã nhìn thấy sao lạ họ đã lên
đường, bỏ lại xứ sở của mình để lên đường tìm kiếm Đức Vua. Các ông không biết
tương lai như thế nào: liệu có gặp được Vị Vua không ? Ta có thể đoán nơi các
ông cũng có một sự giằng co nào đó. Thế nhưng các ông vẫn quyết định ra đi.
Trên quảng đường các ông đi các ông cũng phải bỏ một số chỗ mà ở đó không có
Đức Vua. Cụ thể các ông vào dinh Hêrôđê để hỏi, nhưng bỏ đó mà tiếp tục ra đi.
Tin Mừng ghi lại: « Bấy giờ vua Hê-rô-đê bí mật vời các nhà chiêm tinh
đến, hỏi cặn kẽ về ngày giờ ngôi sao đã xuất hiện. Rồi vua phái các vị ấy đi
Bê-lem và dặn rằng: "Xin quý ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi, và khi
đã tìm thấy, xin báo lại cho tôi, để tôi cũng đến bái lạy Người. » Nghe
nhà vua nói thế, họ ra đi
2. Bỏ xứ sở ra đi của tổ phụ Abraham
Đi ngược lại lịch sử chúng ta thấy có cuộc ra đi của
một vị tổ phụ, là ông Abraham. Ông đã bỏ xứ sở của mình để ra đi theo tiếng gọi
củaThiên Chúa. Kinh Thánh kể : “Ông Áp-ram ra đi, như ĐỨC CHÚA đã phán với
ông. Ông Áp-ram được bảy mươi lăm tuổi khi ông rời Kha-ran. Ông Áp-ram đem theo
vợ là bà Xa-rai, cháu là ông Lót, và mọi tài sản họ đã gầy dựng được, cùng với
gia nhân họ đã có tại Kha-ran. Họ ra đi về phía đất Ca-na-an và đã tới đất đó."
(St 13,5)
3. Bỏ ra đi của Con Thiên Chúa
Nhưng trên hết có một cuộc ra đi từ trong cõi đời đời
: ra đi của Con Thiên Chúa. Chúa kitô vì yêu thương nhân loại đã trút bỏ vinh quang
của Ngài để đến sống với con người. Tình yêu luôn là một cái gì đó từ bỏ. Thư
của thánh Phaolô gởi tín hữu Phêliphê : “Đức Giê-su Ki-tô vốn dĩ là Thiên
Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa,
nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm
nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng
lòng chịu chết, chết trên cây thập tự.” (Pl 2,6-8) Bỏ ra đi của mỗi người chúng
ta :. Sau khi đã gặp Chúa, đã nghe Chúa nói phần nào, người con trai hay người
con gái quyết định từ bỏ gia đinh, quê hương xứ sở,… lên đường làm một hành
trình tìm Chúa, một hành trình trong đức tin.
4. Từ bỏ của người môn đệ
Chuỗi sống của một đời người gồm những khoảnh khắc từ
bỏ đan kết lại, và cái từ bỏ sau cùng chính là cái chết. Thật ra cứ mỗi lần từ
bỏ ra đi là mỗi lần chết. Ngạn ngữ Pháp nói: partir, c’est mourir un peu, ra đi
là chết đi một ít. Cuộc ra đi nào cũng đòi hỏi một sự từ bỏ, một cái chết. Ra
đi là chấp nhận bỏ lại đằng sau tất cả những gì mình quý mến, và sự từ bò này
là từ bỏ cả đời. Người ở đời có cái từ bỏ của người ở đời ; người đi tu cũng có
cái từ bỏ của người đi tu. Nhưng cứ mỗi lần từ bỏ, mỗi lần chết là mỗi lần có
cái gì đó mới mẻ xảy ra trong cuộc đời của mình : « Thật, Thầy bảo thật anh
em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một
mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác » (Ga 12,24)
2) Bỏ quê hương
Điều từ bỏ đầu tiên đối với người theo Chúa là quê
hương. Sinh ra trên đời ai cũng có quê hương. Quê hương là cái gì thân thương
với con người, là nơi chôn nhau cắt rốn, nơi để lại bao nhiêu kỷ niệm đẹp, cho
dù nơi đó có nghèo nàn xấu xí. Ai cũng nhớ quê hương, nếu không sẽ là người mất
gốc. Thế nhưng dù có thân thương mấy đi nữa chúng ta cũng phải chấp nhận từ bỏ
nếu muốn theo Chúa Kitô. Nếu lấy chồng ở xứ xa cũng phải chấp nhận theo chồng
xa quê hương, thì yêu mến Chúa phải chấp nhận bỏ quê hương mà theo Chúa.
3) Bỏ gia đình:
Sống ở đời, đến ngày lấy chồng người con gái phải chấp
nhận ra khỏi tổ ấm gia đình, bỏ cha mẹ để về ở với nhà chồng, thì người đi tu
cũng vậy, theo Chúa phải chấp nhận để cha mẹ ở lại, dù có thương cha mẹ mấy đi
nữa ; phải chấp nhận xa rời anh chị em ruột thịt, những người mà không bao
giờ mình muốn rời xa. Và khi chấp nhận như vậy chúng ta chấp nhận vác thập giá
theo Chúa, và khi ấy chúng ta trở thành người môn đệ đích thực của Chúa Kitô,
còn không, không bao giờ chúng ta là môn đệ của Chúa Kitô. Chúa nói : "Ai
đến với tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống
mình nữa, thì không thể làm môn đệ tôi được. Ai không vác thập giá mình mà đi
theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được.” (Lc 14, 26-27)
4) Tình yêu phái tính
Tình yêu nam nữ luôn luôn là một cái gì tốt đẹp, đến nỗi
nó trở thành hình ảnh nói về tình yêu giữa Thiên Chúa và con người. Tình yêu
phái tính nằm ngay chính trong bản tính của con người. Con người tự bản chất
hướng về người khác phái, muốn ăn đời ở kiếp với người mình yêu, muốn có con
cái với nguời đó… Tất cả là tốt lành trước mặt Thiên Chúa. Nhưng bây giờ vì
Chúa Kitô tôi đành hy sinh, và nói như thánh Phaolô, “Vì Người, tôi đành mất
hết, và tôi coi tất cả như rác, để được Đức Ki-tô và được kết hợp với Người.”
(Pl 3,8) Tuy nhiên đây không phải là chuyện dễ dàng để từ bỏ, nhất là khi ta có
tình cảm với ai đó. Mặt khác bởi vì nó là bản chất của con người, nên không
phải chỉ bỏ một lần là xong, nhưng phải luôn canh chừng và bỏ cả đời.
5) Bỏ bạn bè
Có những người bạn rất thân thiết, giờ đây để theo
Chúa chúng ta cũng phải chấp nhận chào tạm biệt với họ. Có những kỷ niệm giữa
ta với họ khó quên được nhưng ta cũng phải bỏ.
6) Bỏ những kế
hoạch tương lai tương lai
Có những dự định tương lai mà ai trong chúng ta cũng
đều có . Không lớn thì nhỏ tất cả chúng ta đều có những dự định cho tương lai
của mình: tôi sẽ làm cái này, tôi sẽ làm cái kia và tất cả những dự đó đều tốt
lành. Thế nhưng tôi cùng đành từ bỏ để theo Chúa Kitô. Khi chấp nhận như thế
tôi phó thác hoàn toàn tương lai cho tình thương và sự quan phòng của Chúa.
7) Bỏ của cải
Không nhiều thì ít mỗi người chúng ta đều có của cải.
Từ bỏ của cải tài sản không phải là chuyện dễ dàng. Càng có của bao nhiêu, càng
khó bỏ bấy nhiêu. Chúng ta còn nhớ tích chuyện người thanh niên giàu có trong
Tin Mừng. Anh ta là người đạo đức, tuân giữ các giới răn của Chúa. Nhưng khi
Chúa bảo anh muốn nên trọn lành về bán hết tài sản, bố thí cho người nghèo, thì
anh ta sụ mặt, buồn sầu bỏ đi. Ta nên đọc lại đoạn Tin Mừng đó: “Bấy giờ có
một người đến thưa Đức Giê-su rằng: "Thưa Thầy, tôi phải làm điều gì tốt
để được hưởng sự sống đời đời? " Đức Giê-su đáp: "Sao anh hỏi tôi về
điều tốt? Chỉ có một Đấng tốt lành mà thôi. Nếu anh muốn vào cõi sống, thì hãy
giữ các điều răn." Người ấy hỏi: "Điều răn nào? " Đức Giê-su
đáp: "Ngươi không được giết người. Ngươi không được ngoại tình. Ngươi
không được trộm cắp. Ngươi không được làm chứng gian. Ngươi phải thờ cha kính
mẹ", và "Ngươi phải yêu đồng loại như yêu chính mình." Người
thanh niên ấy nói: "Tất cả những điều đó, tôi đã tuân giữ, tôi còn thiếu
điều gì nữa không? " Đức Giê-su đáp: "Nếu anh muốn nên hoàn thiện,
thì hãy đi bán tài sản của anh và đem cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng
trên trời. Rồi hãy đến theo tôi." Nghe lời đó, người thanh niên buồn rầu
bỏ đi, vì anh ta có nhiều của cải.” (Mt 19,16-22)
8) Bỏ chính mình
Bỏ quê hương, gia đình, tình yêu đôi lứa, bạn bè, dự
định tương lai và của cải là chuyện khó, nhưng bỏ chính mình còn khó hơn nhiều.
Bỏ những chuyện bên ngoài thì dễ hơn bỏ những chuyện bên trong, những thứ đã ăn
sâu trong con người của chúng ta : tham lam, nóng giận, si mê (tham, sân si).
Những đam mê trong con người của chúng ta, những tật xấu, những thói ích kỷ, ý
riêng … làm sao một sớm một chiều bỏ được. Và cũng đừng tưởng tu lâu là có thể
bỏ được. Thế nhưng ra khỏi mình, bỏ chính mình để sống cho Chúa và cho người
khác là điều cần thiết cho người muốn từ bỏ mọi sự mà theo Chúa .
9) Luyến tiếc
Có một điều chúng ta ghi nhận là lúc nào đó có người
cảm thấy luyến tiếc với những điều mình từ bỏ. Từ đó đi tìm kiếm bù đắp. Có
những chuyện chúng ta thấy không là gì cả thế mà cũng luyến tiếc. Vì thế ta
phải thú nhận rằng không bao giờ chúng ta có thể bỏ mình hoàn toàn, nếu không
có Chúa Kitô lôi kéo chúng ta ra khỏi mình.
Tóm lại, muốn theo Chúa chúng ta phải chấp nhận từ bỏ,
chấp nhận làm một cuộc liều, sẵn sàng từ bỏ mọi sự và phó thác hoàn toàn cho
Thiên Chúa tình thương, rồi lên đường, để Chúa hướng dẫn đời mình.
Kết luận
Thiên Chúa luôn đi bước trước trong hành trình đức tin
của chúng ta. Ngài yêu ta trước và Ngài đã gọi ta trước. Có lẽ để kết luận
chúng ta trích ra đây một đoạn trong cuốn tự thuật của thánh
Augustinô : « Con yêu
Chúa quá muộn, lạy Chúa là vẻ đẹp vừa rất xưa vừa mới mãi, con yêu Chúa quá muộn
! Này Chúa vẫn ở trong con, mà hồi ấy con cứ ở ngoài và cứ tìm Chúa bên ngoài !
Con thật xấu khi mải chạy theo vẻ đẹp nơi các thụ tạo của Chúa. Chúa từng ở với
con mà con chẳng ở với Chúa. Những sự vật vẫn giữ con xa Chúa, nếu chúng không ở
trong Chúa thì chúng làm sao hiện hữu được ? Chúa gọi con, Chúa la to, và đã
phá tan sự điếc lác của con. Chúa rực sáng, Chúa chiếu toả và đã xua tan sự mù
loà của con. Chúa toả hương thơm, con hít lấy và con khao khát Chúa. Con đã nếm
thử và bây giờ con đói, con khát Chúa. Chúa đã chạm đến con và con nóng lòng
tìm bình an của Chúa. »
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét