ĐỨC GIÁO HOÀNG BÊNÊĐÍCTÔ XVI
Ngày 08 tháng 01 năm 2008
BÀI GIÁO LÝ VỀ THÁNH AUGUSTINÔ (I)
“Mọi Nẽo Đường Của Nền Văn Chương Kitô Giáo La Tinh Đều Dẫn Đến Thành Phố Hippo”
Anh chị em thân mến,
Sau những ngày lễ mừng Chúa Giáng Sinh, tôi muốn trở lại suy niệm về các giáo phụ và hôm nay tôi đề cập đến vị giáo phụ vĩ đại nhất của Giáo Hội La Tin, thánh Augustinô: một con người đầy đam mê và niềm tin, một trí thong minh tuyệt vời và long nhiệt huyết mụv ụ không biết mệt mõi. Vị thánh và vị tiến sỹ vĩ địa này của Giáo Hội thừơng rất nổi tiếng, ít nhất là về tên tuổi của ngài, cho dù những ai chối từ, hay những ai ít biết đến Kitô giáo, bởi vì ngài đã để lại dấu ấn sâu sắc trong đời sống văn hóa của thế giới Tây phương, và của thế giới nói chung.
Nhờ tầm quan trọng đặc biệt của mình, thánh Augustinô có tầm ảnh hưởng to lớn đến độ, một mặt, có thể nói rằng, tất cả mọi nẻo đường của văn hóa Kitô giáo Latin đều dẫn đến Hippo (ngày nay là Annaba, nằm trên bờ biển Angiêria), là nơi ngài đã từng là giám mục, và mặt khác, từ thành phố này của Phi Châu Rôma, nơi Augustinô là giám mục từ năm 395 đến năm 430, lan phân nhánh ra nhiều nẻo đường khác của Kitô giáo trong tương lai và của chính nền văn hóa Tây phương.
Hiếm có một nền văn minh nào có một nhân vật vĩ đại, có khả năng bao quát những giá trị của nền văn minh đó, và có khả năng loan báo sự phong phú của nền văn hóa đó, thiết lập hệ thống các tư tưởng và phương pháp nhằm nuôi dưỡng các thế hệ mai sau, như Đức Giáo hòang Phaolô VI đã nhấn mạnh: “Có thể nói rằng tất cả các triết lý của người xưa đều quy tụ trong tác phẩm của ngài, và từ đó phát xuất các tư tưởng ảnh hưởng đến truyền thống tín lý của các thế kỷ sau”(AAS, 62, 1970, p.426)
Ngoài ra, Augustinô là vị giáo phụ để lại số lượng tác phẩm nhiều nhất. Possidius, người viết tiểu sử của ngài đã nói: Dường như khó có người nào viết nhiều như thế trong cuộc đời của mình. Chúng ta sẽ đề cập về các tác phẩm của ngài trong lần gặp tới.
Hôm nay, chúng ta sẽ tập trung vào cuộc đời của ngài mà chúng ta có thể dựng lại qua các tác phẩm của ngài, và đặc biệt qua tác phẩm “Tự Thú”, là quyển tiểu sử tự thuật đặc biệt về đời sống thiêng liêng của ngài được viết để ca ngợi Thiên Chúa, và là tác phẩm thời danh nhất của ngài.
Thật thế, với việc quan tâm đến đời sống nội tâm và tâm lý, quyển “Tự Thuật” của thánh Augustinô là một kiểu mẫu duy nhất trong nền văn hóa Tây phương và ngoài Tây phương, và bao gồm cả nền văn hóa không tôn giáo, mà còn cho cả thời hiện đại nữa. Việc tập trung vào đời sống thiêng liêng, vào huyền nhiệm của bản ngã, vào mầu nhiệm Thiên Chúa tiềm ẩn trong chính bản ngã, có thể nói, đó là điều lạ lùng trước đây chưa bao giời đề cập và vẫn cón là chóp đỉnh của đời sống thiêng liêng.
Nhưng, bây giờ chúng ta quay về đời sống của chính ngài, thánh Augustinô sinh tại Tagaste, một tỉnh của đế quốc Rôma tại Phi châu, vào ngày 13 tháng 11 năm 354, con của ngài Patrick, một người ngoại giáo sau trở thành một người dự tòng, và bà Monica, một Kitô hữu nhiệt thành. Người phụ nữ nhiệt thành này, được tôn kính như một vị thánh, có ảnh hưởng rất lớn đến con trai của bà và đã giáo dục đức tin Kitô giáo cho ngài. Augustinô cũng tiếp nhận muối, như dấu chỉ đã được đón nhận vào hàng ngũ những người dự tòng. Ngài luôn bị hình ảnh của Đức Giêsu Kitô cúôn hút; ngài nói rằng ngài luôn luôn yêu mến Chúa Giêsu, nhưng càng lớn lên, ngài càng rời xa niềm tin và thực hành của Giáo Hội, giống như những gì vẫn xãy ra đới với những người trẻ ngày nay.
Augustinô cũng có một em trai là Navigius, và một người em gái mà chúng ta không biết tên của người, và khi trở nên góa bụi, bà trờ thành người đứng đầu của một nữ tu viện.
Augustinô có một trí thông minh sắc sảo, và được tiếp nhận một nền giáo dục tốt, mặc dầu ngài không phải là một sinh viên gương mẫu. Ngài đã học văn phạm, trứơc tiên lại quê hương của ngài, sau đó tại Madaurus, và vào năm 370 ngài học môn hùng biện tại Carthage, thủ phủ của Rôma tại Phi châu. Ngài trở thành một bậc thầy về môn La tinh, nhưng không giỏi về Hy lạp và Punic, ngôn ngữ của những người đồng hương.
Chính tại Carthage, lần đầu tiên ngài đã đọc tác phẩm “Hortensius” của Cicero, tác phẩm này, sau đó không tìm thấy nữa, đã khởi đầu nơi ngài con đường hoán cải. Tác phẩm đánh thức nơi ngài lòng yêu mến sự khôn ngoan, như đã xác nhận trong các tác phẩm của mình khi ngài đã trở thành Giám Mục, trong quyển “Tự Thuật” : “ Quyển sách đã làm thay đổi cảm nhận của tôi” nhiều đến nỗi “ đột nhiên, mọi hy vọng hão huyền trong tôi đều biến mất, và tôi mong ước điều vĩnh cữu của sự khôn ngoan với một nhiệt huyết không thể tin được của tâm hồn" ( III, 4, 7).
Nhưng, chính vì Augustinô xác tín rằng không có Chúa Giêsu thì thật sự không thể có được chân lý, và bởi vì trong quyển sách đầy hấp dẫn ấy, không có tên của Người, ngay lập tức ngài quay sang đọc Thánh Kinh. Nhưng ngài lấy làm thất vọng. Không chỉ vì lối chuyển dịch Thánh Kinh sang tiếng La tinh không trọn vẹn, mà còn do chính nội dung của nó cũng không làm ngài hài lòng.
Trong những trình thuật về các cuộc chiến và những sự kiện nhân loại khác, ngài không thể tìm thấy sự cao siêu của triết lý, sự chói lọi của việc tìm kiếm chân lý. Tuy nhiên, ngài không muốn sống mà không có Thiên Chúa, và do đó ngài tìm kiếm một tôn giáo có thể đáp ứng khao khát chân lý và khao khát được gần gủi với Chúa Giêsu.
Ngài đã rơi vào cạm bẩy của nhóm Manichê, nhóm tự cho mình là những Kitô hữu và hứa hẹn một tôn giáo hoàn toàn thuần lý. Họ khẳng địng thế giới được phân chia thành hai nguyên lý: nguyên lý của sự thiện và của sự ác. Điều này có thể giải thích được sự phức tạp của lích sử nhân loại. Thánh Augustinô cũng thích nền luân lý lưỡng cực đó, bởi vì nó đem đến cho những ai được tuyển chọn một nền luân lý rất cao siêu, và cho những ai, giống như ngài, gắn bó với nền luân lý đó, và đặc biệt cho những người trẻ, có thể sống một cuộc sống phù hợp với thời đại. Và do đó, ngài đã trở thành một người thuộc nhóm Manichê và xác tín rằng lúc đó mình đã tìm được sự tổng hợp giữa lý trí, việc tìm kiếm chân lý và tình yêu đối với Chúa Giêsu.
Và cuộc sống cá nhân của ngài cũng thuận lợi: Việc trở thành người thuộc nhóm Manichê mở ra cho ngài nhiều cơ hội nghể nghiệp. Việc đựơc gia nhập vào tôn giáo này, bao gồm những người có ảnh hưởng, cho ngài có cơ hội giao tiếp với một người hpụ nữ, và tiếp tục sự nghiệp.
Ngài đã có với phụ nữ này một người con trai, là Adeodatur, là người mà ngài rất thương yêu, là người rất thông minh, và sau đó hiện diện trong khi chuẩn bị làm phép Rửa cho Augustinô tại hồ Como, và được đề cập đến trong tác phẩm “Các Cuộc Đối Thoại”
Mà thánh Augustinô còn để lại cho chúng ta. Tuy nhiên, chàng trai đó đã qua đời khi còn trẻ.
Sau thời gian giảng dạy môn Văn Phạm tại quê nhà, vào năm ngài tròn 20 tuổi, ngài sốm trở lại Carthage, nơi ngài đã trở thành một bậc thầy thông minh và danh tiếng về hùng biện. Tuy nhiên, với thời gian, thánh Augustinô tự mình tách khỏi niềm tin nhóm Manichê, vì ngài thất vọng chính ngay trong quan điểm trí thức của niềm tin đó, vì nó không có khả năng giải quyết được những nghi vấn của ngài. Augustinô chuyển đến Roma, rồi đến Milanô, nơi đó, Augustinô có được một chức vụ có thế giá trong tòa án của đế quốc, nhờ vào các lời tiến cử của tổng trấn Roma, một người ngoại đạo tên là Symmacho, kẻ thù địch của thánh Ambrôsiô, giám mục Milanô.
Trứơc tiên, với mục đích làm giàu cho kiến thức hùng biện của mình,
Thánh Augustinô bắt đầu tham dự các buổi diễn thuyết tuyệt diệu của Giám Mục Ambrosiô, là vị đại diện của hoàng đế ở miền Bắc Ý; ngài bị lôi cuốn bởi các lời của thánh nhân, không chỉ do tài hùng biện, mà cả nội dung của các bài giảng cũng đánh động tâm hồn Augustinô. Vấn đề quan trọng của Cựu Ước - việc trình bày thiếu hấp dẫn của nghệ thuật hùng biện, không đủ trình độ cao đẹp của triết lý - được giải đáp trong các lời giảng dạy của Thánh Ambrôsiô, nhờ vào việc chú giải theo kiểu tu từ học của Cựu Ước: Augustinô nhận ra được Cựu Ước là con đường dẫn đến Chúa Giêsu. Như vậy, Augustinô tìm ra được chìa khoá để hiểu biết được vẻ đẹp, triết lý sâu xa của Cựu Ước, và ngài biết được sự duy nhất của mầu nhiệm Chúa Ki Tô trong lịch sử, cũng như sự tổng hợp giữa triết lý, lý trí và đức tin trong Logos, trong Chúa Giêsu, Ngôi Lời hằng hữu đã trở nên xác phàm.
Nhanh chóng, Augustinô nhận thức rằng cách đọc Thánh Kinh theo nghĩa bóng và nền triết học theo học thuyết mới của Platon ( Neo- Platon), mà vị Giám Mục Milanô áp dụng, giúp cho ngài giải toả được những khó khăn của tuổi trẻ khi mới đến gần các bản văn Thánh Kinh, mà ngài tưởng là không tài nào có thể giải quyết được.
Augustinô tiếp tục đọc những tác phẩm của các triết gia cùng với việc đọc Thánh Kinh và nhất là đối với các thư Thánh Phaolô. Như vậy, việc trở lại Ki Tô giáo của Augustinô, vào ngày 15 tháng 8 năm 386, được coi như là đỉnh cao của một cuộc hành trình nội tâm dài dẵng và khắc khoải, mà chúng ta sẽ còn đề cập đến trong một bài giáo lý khác. Người Phi Châu này di chuyển về vùng quê, ở phía bắc Milano, gần hồ Como - cùng với mẹ là bà Monica, cậu con trai Adeonato và một nhóm nhỏ các thân hữu - để chuẩn bị nhận Phép Rửa. Vào lúc ba mươi hai tuổi, Augustinô được Ambrôsiô rửa tội vào ngày 24 tháng 04 năm 387, trong đêm canh thức Phục Sinh, tại nhà thờ Chính Toà Milanô.
Sau khi nhận Phép Rửa, Augustinô quyết định trở về Phi Châu với bạn bè, với ý định là sống cuộc sống cộng đồng tu viện, để phục vụ Chúa. Nhưng ở Ostia, trong khi còn chờ đợi để khởi hành, ba mẹ Monica thình lình bị lâm bệnh và không lâu sau đó chết đi, khiến cho tâm hồn của con trai bà rất đau buồn.
Về đến quê hương, người định cư ở Ippona, thiết lập ở đó một tu viện. Ở thị trấn miền duyên hải Phi Châu này, Augustinô được truyền chức linh mục năm 391, mặc dầu ngài từ chối, và ngài bắt đầu cùng với một vài bạn hữu cuộc sống tu viện bằng cách phân chia thời gian giữa cầu nguyện, học hỏi và giảng dạy. Ngài chỉ muốn phục vụ chân lý, ngài không cảm thấy được kêu gọi cho cuộc sống mục vụ, nhưng sau đó ngài hiểu ngay là ơn Chúa kêu gọi mình là kêu gọi để trở thành chủ chăn sống giữa những người khác và ban tặng ân sủng chân lý cho người khác.
Bốn năm sau, vào năm 395, Augustinô được tấn phong giám mục tại Hippo. Do việc đào sâu học hỏi Thánh Kinh và các văn bản truyền thống Ki Tô giáo, Augustinô là một giám mục gương mẫu trong việc dấn thân mục vụ không mệt mõi: mỗi tuần ngài giảng dạy nhiều lần cho các tín hữu, nâng đở những ai nghèo khổ và côi cút, chăm lo huấn dạy hàng giáo sỹ và tổ chức các tu viện nam cũng như nữ.
Trong một thời gian ngắn, ngài tự nhận thấy mình là một trong những ngừơi đại diện quan trọng nhất của Ki Tô giáo trong thời đó: Rất năng động trong việc quản trị giáo phận của mình - với cả những thành quả dân sự đáng khích lệ- hơn ba mươi lăm năm trong chức vụ giám mục, Đức giám mục thành Hippo đã tạo được một ảnh hưởng rộng lớn trong việc hướng dẫn Giáo Hội Công Giáo tại Phi Châu thuộc đế quốc Roma, và cách chung, cả Ki Tô giáo ở thời đại ngài, trong việc đối đầu với các nhóm Manichê, Donati và Pelage, là những nhóm gây nguy hiểm cho đức tin Ki Tô giáo vào Thiên Chúa duy nhất và giàu lòng nhân hậu.
Thánh Augustinô mỗi ngày phó thác mình cho Thiên Chúa, cho đến cuối đời mình. Ngài bị cơn sốt hoành hành, trong khi thành Hippo bị vây hảm bởi quân ngoại xâm. Vị giám mục - người bạn của ngài, tên là Possidio, thuật lại trong quyển " Cuộc đời của Augustinô" ( Vita Augustini) - xin các người thân cận viết bằng chữ lớn các Thánh vịnh sám hối " và ngài bảo họ dán các tờ giấy viết đó trên tường, để nằm trên giường trong cơn bệnh, ngài có thể thấy được và đọc, và khóc không ngừng với nước mắt nóng ấm" ( 31, 2), đây là cách thánh Augustinô đã trãi qua những ngày cuối cùng của đời mình. Ngài chết vào ngày 28 tháng 8 năm 430, vào lúc 76 tuổi. Chúng ta sẽ đề cập đến trong những lần gặp gỡ tới với các tác phẩm , sứ điệp và những kinh nghiệm nội tâm của ngài.
Ngày 08 tháng 01 năm 2008
BÀI GIÁO LÝ VỀ THÁNH AUGUSTINÔ (I)
“Mọi Nẽo Đường Của Nền Văn Chương Kitô Giáo La Tinh Đều Dẫn Đến Thành Phố Hippo”
Anh chị em thân mến,
Sau những ngày lễ mừng Chúa Giáng Sinh, tôi muốn trở lại suy niệm về các giáo phụ và hôm nay tôi đề cập đến vị giáo phụ vĩ đại nhất của Giáo Hội La Tin, thánh Augustinô: một con người đầy đam mê và niềm tin, một trí thong minh tuyệt vời và long nhiệt huyết mụv ụ không biết mệt mõi. Vị thánh và vị tiến sỹ vĩ địa này của Giáo Hội thừơng rất nổi tiếng, ít nhất là về tên tuổi của ngài, cho dù những ai chối từ, hay những ai ít biết đến Kitô giáo, bởi vì ngài đã để lại dấu ấn sâu sắc trong đời sống văn hóa của thế giới Tây phương, và của thế giới nói chung.
Nhờ tầm quan trọng đặc biệt của mình, thánh Augustinô có tầm ảnh hưởng to lớn đến độ, một mặt, có thể nói rằng, tất cả mọi nẻo đường của văn hóa Kitô giáo Latin đều dẫn đến Hippo (ngày nay là Annaba, nằm trên bờ biển Angiêria), là nơi ngài đã từng là giám mục, và mặt khác, từ thành phố này của Phi Châu Rôma, nơi Augustinô là giám mục từ năm 395 đến năm 430, lan phân nhánh ra nhiều nẻo đường khác của Kitô giáo trong tương lai và của chính nền văn hóa Tây phương.
Hiếm có một nền văn minh nào có một nhân vật vĩ đại, có khả năng bao quát những giá trị của nền văn minh đó, và có khả năng loan báo sự phong phú của nền văn hóa đó, thiết lập hệ thống các tư tưởng và phương pháp nhằm nuôi dưỡng các thế hệ mai sau, như Đức Giáo hòang Phaolô VI đã nhấn mạnh: “Có thể nói rằng tất cả các triết lý của người xưa đều quy tụ trong tác phẩm của ngài, và từ đó phát xuất các tư tưởng ảnh hưởng đến truyền thống tín lý của các thế kỷ sau”(AAS, 62, 1970, p.426)
Ngoài ra, Augustinô là vị giáo phụ để lại số lượng tác phẩm nhiều nhất. Possidius, người viết tiểu sử của ngài đã nói: Dường như khó có người nào viết nhiều như thế trong cuộc đời của mình. Chúng ta sẽ đề cập về các tác phẩm của ngài trong lần gặp tới.
Hôm nay, chúng ta sẽ tập trung vào cuộc đời của ngài mà chúng ta có thể dựng lại qua các tác phẩm của ngài, và đặc biệt qua tác phẩm “Tự Thú”, là quyển tiểu sử tự thuật đặc biệt về đời sống thiêng liêng của ngài được viết để ca ngợi Thiên Chúa, và là tác phẩm thời danh nhất của ngài.
Thật thế, với việc quan tâm đến đời sống nội tâm và tâm lý, quyển “Tự Thuật” của thánh Augustinô là một kiểu mẫu duy nhất trong nền văn hóa Tây phương và ngoài Tây phương, và bao gồm cả nền văn hóa không tôn giáo, mà còn cho cả thời hiện đại nữa. Việc tập trung vào đời sống thiêng liêng, vào huyền nhiệm của bản ngã, vào mầu nhiệm Thiên Chúa tiềm ẩn trong chính bản ngã, có thể nói, đó là điều lạ lùng trước đây chưa bao giời đề cập và vẫn cón là chóp đỉnh của đời sống thiêng liêng.
Nhưng, bây giờ chúng ta quay về đời sống của chính ngài, thánh Augustinô sinh tại Tagaste, một tỉnh của đế quốc Rôma tại Phi châu, vào ngày 13 tháng 11 năm 354, con của ngài Patrick, một người ngoại giáo sau trở thành một người dự tòng, và bà Monica, một Kitô hữu nhiệt thành. Người phụ nữ nhiệt thành này, được tôn kính như một vị thánh, có ảnh hưởng rất lớn đến con trai của bà và đã giáo dục đức tin Kitô giáo cho ngài. Augustinô cũng tiếp nhận muối, như dấu chỉ đã được đón nhận vào hàng ngũ những người dự tòng. Ngài luôn bị hình ảnh của Đức Giêsu Kitô cúôn hút; ngài nói rằng ngài luôn luôn yêu mến Chúa Giêsu, nhưng càng lớn lên, ngài càng rời xa niềm tin và thực hành của Giáo Hội, giống như những gì vẫn xãy ra đới với những người trẻ ngày nay.
Augustinô cũng có một em trai là Navigius, và một người em gái mà chúng ta không biết tên của người, và khi trở nên góa bụi, bà trờ thành người đứng đầu của một nữ tu viện.
Augustinô có một trí thông minh sắc sảo, và được tiếp nhận một nền giáo dục tốt, mặc dầu ngài không phải là một sinh viên gương mẫu. Ngài đã học văn phạm, trứơc tiên lại quê hương của ngài, sau đó tại Madaurus, và vào năm 370 ngài học môn hùng biện tại Carthage, thủ phủ của Rôma tại Phi châu. Ngài trở thành một bậc thầy về môn La tinh, nhưng không giỏi về Hy lạp và Punic, ngôn ngữ của những người đồng hương.
Chính tại Carthage, lần đầu tiên ngài đã đọc tác phẩm “Hortensius” của Cicero, tác phẩm này, sau đó không tìm thấy nữa, đã khởi đầu nơi ngài con đường hoán cải. Tác phẩm đánh thức nơi ngài lòng yêu mến sự khôn ngoan, như đã xác nhận trong các tác phẩm của mình khi ngài đã trở thành Giám Mục, trong quyển “Tự Thuật” : “ Quyển sách đã làm thay đổi cảm nhận của tôi” nhiều đến nỗi “ đột nhiên, mọi hy vọng hão huyền trong tôi đều biến mất, và tôi mong ước điều vĩnh cữu của sự khôn ngoan với một nhiệt huyết không thể tin được của tâm hồn" ( III, 4, 7).
Nhưng, chính vì Augustinô xác tín rằng không có Chúa Giêsu thì thật sự không thể có được chân lý, và bởi vì trong quyển sách đầy hấp dẫn ấy, không có tên của Người, ngay lập tức ngài quay sang đọc Thánh Kinh. Nhưng ngài lấy làm thất vọng. Không chỉ vì lối chuyển dịch Thánh Kinh sang tiếng La tinh không trọn vẹn, mà còn do chính nội dung của nó cũng không làm ngài hài lòng.
Trong những trình thuật về các cuộc chiến và những sự kiện nhân loại khác, ngài không thể tìm thấy sự cao siêu của triết lý, sự chói lọi của việc tìm kiếm chân lý. Tuy nhiên, ngài không muốn sống mà không có Thiên Chúa, và do đó ngài tìm kiếm một tôn giáo có thể đáp ứng khao khát chân lý và khao khát được gần gủi với Chúa Giêsu.
Ngài đã rơi vào cạm bẩy của nhóm Manichê, nhóm tự cho mình là những Kitô hữu và hứa hẹn một tôn giáo hoàn toàn thuần lý. Họ khẳng địng thế giới được phân chia thành hai nguyên lý: nguyên lý của sự thiện và của sự ác. Điều này có thể giải thích được sự phức tạp của lích sử nhân loại. Thánh Augustinô cũng thích nền luân lý lưỡng cực đó, bởi vì nó đem đến cho những ai được tuyển chọn một nền luân lý rất cao siêu, và cho những ai, giống như ngài, gắn bó với nền luân lý đó, và đặc biệt cho những người trẻ, có thể sống một cuộc sống phù hợp với thời đại. Và do đó, ngài đã trở thành một người thuộc nhóm Manichê và xác tín rằng lúc đó mình đã tìm được sự tổng hợp giữa lý trí, việc tìm kiếm chân lý và tình yêu đối với Chúa Giêsu.
Và cuộc sống cá nhân của ngài cũng thuận lợi: Việc trở thành người thuộc nhóm Manichê mở ra cho ngài nhiều cơ hội nghể nghiệp. Việc đựơc gia nhập vào tôn giáo này, bao gồm những người có ảnh hưởng, cho ngài có cơ hội giao tiếp với một người hpụ nữ, và tiếp tục sự nghiệp.
Ngài đã có với phụ nữ này một người con trai, là Adeodatur, là người mà ngài rất thương yêu, là người rất thông minh, và sau đó hiện diện trong khi chuẩn bị làm phép Rửa cho Augustinô tại hồ Como, và được đề cập đến trong tác phẩm “Các Cuộc Đối Thoại”
Mà thánh Augustinô còn để lại cho chúng ta. Tuy nhiên, chàng trai đó đã qua đời khi còn trẻ.
Sau thời gian giảng dạy môn Văn Phạm tại quê nhà, vào năm ngài tròn 20 tuổi, ngài sốm trở lại Carthage, nơi ngài đã trở thành một bậc thầy thông minh và danh tiếng về hùng biện. Tuy nhiên, với thời gian, thánh Augustinô tự mình tách khỏi niềm tin nhóm Manichê, vì ngài thất vọng chính ngay trong quan điểm trí thức của niềm tin đó, vì nó không có khả năng giải quyết được những nghi vấn của ngài. Augustinô chuyển đến Roma, rồi đến Milanô, nơi đó, Augustinô có được một chức vụ có thế giá trong tòa án của đế quốc, nhờ vào các lời tiến cử của tổng trấn Roma, một người ngoại đạo tên là Symmacho, kẻ thù địch của thánh Ambrôsiô, giám mục Milanô.
Trứơc tiên, với mục đích làm giàu cho kiến thức hùng biện của mình,
Thánh Augustinô bắt đầu tham dự các buổi diễn thuyết tuyệt diệu của Giám Mục Ambrosiô, là vị đại diện của hoàng đế ở miền Bắc Ý; ngài bị lôi cuốn bởi các lời của thánh nhân, không chỉ do tài hùng biện, mà cả nội dung của các bài giảng cũng đánh động tâm hồn Augustinô. Vấn đề quan trọng của Cựu Ước - việc trình bày thiếu hấp dẫn của nghệ thuật hùng biện, không đủ trình độ cao đẹp của triết lý - được giải đáp trong các lời giảng dạy của Thánh Ambrôsiô, nhờ vào việc chú giải theo kiểu tu từ học của Cựu Ước: Augustinô nhận ra được Cựu Ước là con đường dẫn đến Chúa Giêsu. Như vậy, Augustinô tìm ra được chìa khoá để hiểu biết được vẻ đẹp, triết lý sâu xa của Cựu Ước, và ngài biết được sự duy nhất của mầu nhiệm Chúa Ki Tô trong lịch sử, cũng như sự tổng hợp giữa triết lý, lý trí và đức tin trong Logos, trong Chúa Giêsu, Ngôi Lời hằng hữu đã trở nên xác phàm.
Nhanh chóng, Augustinô nhận thức rằng cách đọc Thánh Kinh theo nghĩa bóng và nền triết học theo học thuyết mới của Platon ( Neo- Platon), mà vị Giám Mục Milanô áp dụng, giúp cho ngài giải toả được những khó khăn của tuổi trẻ khi mới đến gần các bản văn Thánh Kinh, mà ngài tưởng là không tài nào có thể giải quyết được.
Augustinô tiếp tục đọc những tác phẩm của các triết gia cùng với việc đọc Thánh Kinh và nhất là đối với các thư Thánh Phaolô. Như vậy, việc trở lại Ki Tô giáo của Augustinô, vào ngày 15 tháng 8 năm 386, được coi như là đỉnh cao của một cuộc hành trình nội tâm dài dẵng và khắc khoải, mà chúng ta sẽ còn đề cập đến trong một bài giáo lý khác. Người Phi Châu này di chuyển về vùng quê, ở phía bắc Milano, gần hồ Como - cùng với mẹ là bà Monica, cậu con trai Adeonato và một nhóm nhỏ các thân hữu - để chuẩn bị nhận Phép Rửa. Vào lúc ba mươi hai tuổi, Augustinô được Ambrôsiô rửa tội vào ngày 24 tháng 04 năm 387, trong đêm canh thức Phục Sinh, tại nhà thờ Chính Toà Milanô.
Sau khi nhận Phép Rửa, Augustinô quyết định trở về Phi Châu với bạn bè, với ý định là sống cuộc sống cộng đồng tu viện, để phục vụ Chúa. Nhưng ở Ostia, trong khi còn chờ đợi để khởi hành, ba mẹ Monica thình lình bị lâm bệnh và không lâu sau đó chết đi, khiến cho tâm hồn của con trai bà rất đau buồn.
Về đến quê hương, người định cư ở Ippona, thiết lập ở đó một tu viện. Ở thị trấn miền duyên hải Phi Châu này, Augustinô được truyền chức linh mục năm 391, mặc dầu ngài từ chối, và ngài bắt đầu cùng với một vài bạn hữu cuộc sống tu viện bằng cách phân chia thời gian giữa cầu nguyện, học hỏi và giảng dạy. Ngài chỉ muốn phục vụ chân lý, ngài không cảm thấy được kêu gọi cho cuộc sống mục vụ, nhưng sau đó ngài hiểu ngay là ơn Chúa kêu gọi mình là kêu gọi để trở thành chủ chăn sống giữa những người khác và ban tặng ân sủng chân lý cho người khác.
Bốn năm sau, vào năm 395, Augustinô được tấn phong giám mục tại Hippo. Do việc đào sâu học hỏi Thánh Kinh và các văn bản truyền thống Ki Tô giáo, Augustinô là một giám mục gương mẫu trong việc dấn thân mục vụ không mệt mõi: mỗi tuần ngài giảng dạy nhiều lần cho các tín hữu, nâng đở những ai nghèo khổ và côi cút, chăm lo huấn dạy hàng giáo sỹ và tổ chức các tu viện nam cũng như nữ.
Trong một thời gian ngắn, ngài tự nhận thấy mình là một trong những ngừơi đại diện quan trọng nhất của Ki Tô giáo trong thời đó: Rất năng động trong việc quản trị giáo phận của mình - với cả những thành quả dân sự đáng khích lệ- hơn ba mươi lăm năm trong chức vụ giám mục, Đức giám mục thành Hippo đã tạo được một ảnh hưởng rộng lớn trong việc hướng dẫn Giáo Hội Công Giáo tại Phi Châu thuộc đế quốc Roma, và cách chung, cả Ki Tô giáo ở thời đại ngài, trong việc đối đầu với các nhóm Manichê, Donati và Pelage, là những nhóm gây nguy hiểm cho đức tin Ki Tô giáo vào Thiên Chúa duy nhất và giàu lòng nhân hậu.
Thánh Augustinô mỗi ngày phó thác mình cho Thiên Chúa, cho đến cuối đời mình. Ngài bị cơn sốt hoành hành, trong khi thành Hippo bị vây hảm bởi quân ngoại xâm. Vị giám mục - người bạn của ngài, tên là Possidio, thuật lại trong quyển " Cuộc đời của Augustinô" ( Vita Augustini) - xin các người thân cận viết bằng chữ lớn các Thánh vịnh sám hối " và ngài bảo họ dán các tờ giấy viết đó trên tường, để nằm trên giường trong cơn bệnh, ngài có thể thấy được và đọc, và khóc không ngừng với nước mắt nóng ấm" ( 31, 2), đây là cách thánh Augustinô đã trãi qua những ngày cuối cùng của đời mình. Ngài chết vào ngày 28 tháng 8 năm 430, vào lúc 76 tuổi. Chúng ta sẽ đề cập đến trong những lần gặp gỡ tới với các tác phẩm , sứ điệp và những kinh nghiệm nội tâm của ngài.
ĐỨC GIÁO HOÀNG BÊNÊĐICTÔ XVI
Ngày 16 tháng 01 năm 2008
Bài giáo lý về thánh Augustinô (II)
Anh chị em thân mến,
Hôm nay Cha muốn tiếp tục nói về vị đại thánh Giám mục Hippone, thánh Augustinô. Bốn năm trước khi chết, ngài muốn chọn một người kế vị ngài. Vì thế, ngày 16 tháng 9 năm 426, ngài quy tụ dân chúng trong Vương cung thánh đường Hoà bình, tại Hippone để giới thiệu với các tín hữu vị đã được chỉ định lãnh trách nhiệm này. Ngài nói: " Trong cuộc đời này tất cả chúng ta đều phải chết, nhưng ngày cuối cùng của cuộc sống là điều không chắc chắn đối với tất cả. Dầu vậy, trong tuổi thơ người ta hy vọng đạt tới tuổi trẻ; trong tuổi trẻ người ta hy vọng đạt tuổi thanh niên; trong tuổi thanh niên người ta hy vọng đạt tuổi trưởng thành; trong tuổi trưởng thành người ta hy vọng đạt tuổi già. Không chắc có đạt được nó không, nhưng người ta hy vọng. Trái lại tuổi già không có thời gian nào khác đàng trước để có thể hy vọng; cả chuỗi ngày của nó cũng không chắc chắn... Do ý Chúa tôi đã tới thành phố này trong tuổi sung sức của đời mình; nhưng tuổi trẻ của tôi đã qua rồi, và giờ đây tôi đã già" (Ep 213,1). Thánh Augustinô giới thiệu linh mục Eraclius là vị kế vị của ngài. Cộng đoàn vỗ tay tán đồng và lập lại 23 lần: "Xin cám tạ Thiên Chúa! Xin chúc tụng Chúa Kitô!". Ngoài ra, cộng đoàn còn vỗ tay tán đồng cho những ý định của ngài trong tương lai : thánh nhân muốn dành hết những năm cuối đời cho việc nghiên cứu sâu rộng Thánh Kinh (x. Ep 213, 6).
Thật vậy, bốn năm sau cùng là những năm của ngày tháng làm việc trí thức tuyệt vời: thánh nhân đã kết thúc các tác phẩm quan trọng, và bắt đầu các tác phẩm khác, công khai tranh luận công khai với các người rối đạo, luôn tìm đối thoại và can thiệp để đem lại hòa bình trong các tỉnh Phi châu bị các bộ tộc man rợ phía bắc quấy nhiễu. Chính trong chiều hướng đó thánh nhân đã viết thư cho quận công Darius đến Phi châu để giảng hòa giữa quận công Bonifacio với triều đình Roma, vì ông này đang bị các bộ lạc Mauri lợi dụng cho các lợi lộc của họ. Thánh Augustinô đã viết trong lá thư như sau: "Tước hiệu vinh quang lớn nhất là giết chết chiến tranh bằng lời nói, thay vì giết người bằng gươm, và đem lại hay duy trì hòa bình với hoà bình không phải bằng chiến tranh. Dĩ nhiên cả những người chiến đấu, nếu họ tốt lành, chắc chắn họ cũng tìm kiếm hòa bình, nhưng với giá cả của việc đổ máu. Còn ngài trái lại, ngài được mời đến để ngăn cản cảnh đổ máu của bất cứ ai " (Ep 229,2). Bất hạnh thay, những hy vọng hoà giải tại các vùng đất Phi châu thất bại: vào tháng 5 năm 429 rợ Vandal do chính quận công Bonifacio mang tới cứu viện, vượt eo biển Gibralta và tràn vào nước Mauritanie. Cuộc xâm lăng lan tràn nhanh chóng sang các tỉnh khác của Phi châu. Vào tháng 5 hay tháng 6 năm 430 "các người tàn phá đế quốc Roma" như Đức Cha Possidius ám chỉ về những kẻ man rợ này (Vie, 30, 1), đã bao vây thành phố Hippone.
Quận công Bonifacio đến ấn nấu trong thành phố và đã giao hoà quá trễ tràng với triều đình, ông đã bất lực cản trở đường tiến của quân xâm lăng. Tác giả Possidius mô tả nỗi đau của thánh Augustinô như sau: " Nước mắt đã là bánh ăn thường ngày của người và giờ đây tới lúc kiệt sức, hơn ai khác người lê bước trong đắng cay và buồn thương của tuổi già" (Vita 28,6). Và ông giải thích tiếp " Vì người của Thiên Chúa thấy các cuộc tàn sát và phá hủy các thành phố, nhà cửa tại đồng quê bị giật sập, dân chúng bị giết hay phải chạy trốn và tản mác; các nhà thờ không có linh mục và thừa tác viên, các trinh nữ và nữ tu sĩ bị phân tán tứ phía; trong đó có những vị chết vì bị tra tấn, vị khác nữa thì bị chết bằng gươm, vị khác nữa bị nhốt tù, mất sự toàn vẹn của linh hồn cũng như thân xác và cả lòng tin nữa, và bị quân thù bắt làm nô lệ" (ibid., 28,8).
Cả khi già cả và mệt mỏi thánh Augustinô vẫn ở trong vị thế chiến đấu, tự an ủi mình và người khác với lời cầu nguyện và với việc suy niệm các chương trình mầu nhiệm của Chúa Quan Phòng. Trong cái nhìn đó, thánh nhân nói về "thế giới già nua" - thế giới Roma già nua - như người đã làm nhiều năm trước đó để an ủi các người tị nạn từ Italia tới, khi quân rợ Goths vùng Alaric xâm lăng thành phố Roma. Trong tuổi già có nhiều bệnh tật: ho hen, bị hạn hẹp, âu lo và kiệt sức. Nhưng nếu thế giới có gìa đi, thì Chúa Kitô vẫn trẻ trung muôn thuở. Và thánh nhân mời gọi : " đừng khước từ trẻ trung trở lại bằng cách kết hiệp với Chúa Kitô là người nói với bạn: đừng sợ gì cả, tuổi xuân của bạn sẽ tươi trẻ khoẻ như đại bàng con" (x. Bài giảng 81,8). Như thế tín hữu không được ngã lòng, nhưng phải lo trợ giúp người cần được trợ giúp. Đó cũng là điều thánh nhân trả lời cho Đức Cha Honoré, Giám Mục Thiave, khi Đức Cha hỏi trong thời bị quân rợ xâm lăng thì một Giám Mục, Linh Mục hay người của Giáo Hội có thể trốn chạy để cứu lấy mạng mình hay không: "Khi nguy hiểm chung cho mọi người, nghĩa là cho các giám mục, linh mục và những người giáo dân, thì không được bỏ lại những người khác đang cần giúp đỡ. Trong trường hợp đó, mọi người đều có thể chạy đến các nơi an toàn; nhưng nếu có người cần được trợ giúp thì không được bỏ rơi họ, nhất là những người có nhiệm vụ thánh phải cùng trốn hay cùng chịu các tai ương khốn khó mà Cha gia đình muốn họ phải chịu" (Ep 228,2). Và thánh nhân kết luận: "Đó là bằng chứng cao cả nhất của tình yêu thương" (Ibid., 3). Dọc dài các thế kỷ, đã có biết bao nhiêu linh mục lắng nghe và thi hành sứ điệp này của thánh Augustinô.
Đang khi thành Hippone kháng cự quân thù. Nhà và tu viện của thánh Augustinô đã mở rộng cửa tiếp đón các Giám Mục xin tá túc, trong đó có cả Giám Mục Possidius, môn đệ của thánh Augustinô và là người đã để lại chứng từ trực tiếp liên quan tới các ngày cuối cùng của thánh nhân. Đức Cha Possidius kể rằng vào tháng thứ 3 của cuộc bao vây thánh Augustinô phải đi nằm vì bị sốt. Đó là cơn bệnh sau cùng của ngài ( Vie, 29, 3). Người lợi dụng lúc này để cầu nguyện nhiều hơn. Thánh nhân hay lập lại rằng không có ai, cho dù là Giám Mục, Linh Mục tu sĩ hay giáo dân, dù có cung cách sống xem ra không thể đáng trách thế nào đi nữa, mà có thể đối đầu với cái chết mà không cần sám hối một cách thích hợp. Vì thế người lập đi lập lại các thánh vịnh sám hối trong nước mắt, như đã làm nhiều lần với dân chúng (ibid, 31,2).
Bệnh càng nặng vị Giám Mục sắp chết càng cảm thấy cần thinh lặng và cầu nguyện : "Để khỏi bị quấy rầy khoảng 10 ngày trước khi qua đời, thánh nhân xin các người hiện diện đừng cho ai vào phòng ngoài giờ của các bác sĩ tới khám bệnh và lúc đem thức ăn. Ý muốn của người đã được thi hành và trong suốt thời gian đó thánh nhân đã cầu nguyện (ibid., 31,3). Người qua đời ngày 28 tháng 8 năm 430: sau cùng con tim cao cả của người đã an nghỉ trong Thiên Chúa.
Đức Cha Possidius cho chúng ta biết có thánh lễ an táng và mai táng thánh Augustinô (Vie 351, 5). Sau đó, xác của ngài được đưa về Sardaigne và năm 725 được đưa về Pavie, trong Vương cung thánh đường Thánh Phêrô trên trời vàng, nơi đây ngài vẫn còn an nghỉ. Cuốn tiểu sử đầu tiên về thánh nhân kết thúc như sau: "Ngài đã để lại một hàng giáo sĩ đông đúc cũng như các tu viện nam nữ đầy các người sống khiết tịnh và vâng lời các đấng bề trên, cùng với các thư viện chứa đầy sách và các diễn văn của ngài và của các vị thánh khác, qua đó nhờ ơn Chúa, người ta biết được công nghiệp và sự cao cả của người trong Giáo Hội, và trong đó các tín hữu luôn tìm thấy người còn sống (Vie 31,8). Với những lời này, phần chúng ta, chúng ta cũng thấy ngài vẫn sống. Khi cha đọc lại những tác phẩm của thánh Augustinô, cha không có ấn tượng rằng ngài là một người đã chết cách đây 16000 năm, nhưng cha cảm thấy người như là một người của ngày nay: một người bạn, một người đồng thời nói với cha, nói với chúng ta qua lòng tin tươi mát và thời sự của ngài... Thánh Augustinô nói với cha, nói với anh chị em trong những tác phẩm của ngài. Chúng ta thấy tính cách thời sự thường hằng nơi lòng tin của người, lòng tin đến từ Chúa Kitô, Ngôi Lời Vĩnh Cửu Nhập Thể, Con Thiên Chúa và Con của loài người. Và chúng ta có thể thấy rằng lòng tin này không phải là của hôm qua, cả khi đã được giảng dậy hôm qua; nó luôn luôn là của ngày hôm nay, vì Chúa Kitô thực sự là hôm nay hôm qua và mãi mãi. Ngài là Đường là Sự Thật và là Sự Sống. Như thế thánh Agostino khuyến khích chúng ta tin tưởng nơi Chúa Kitô luôn hằng sống và như vậy tìm ra con đường cuộc sống.
Ngày 16 tháng 01 năm 2008
Bài giáo lý về thánh Augustinô (II)
Anh chị em thân mến,
Hôm nay Cha muốn tiếp tục nói về vị đại thánh Giám mục Hippone, thánh Augustinô. Bốn năm trước khi chết, ngài muốn chọn một người kế vị ngài. Vì thế, ngày 16 tháng 9 năm 426, ngài quy tụ dân chúng trong Vương cung thánh đường Hoà bình, tại Hippone để giới thiệu với các tín hữu vị đã được chỉ định lãnh trách nhiệm này. Ngài nói: " Trong cuộc đời này tất cả chúng ta đều phải chết, nhưng ngày cuối cùng của cuộc sống là điều không chắc chắn đối với tất cả. Dầu vậy, trong tuổi thơ người ta hy vọng đạt tới tuổi trẻ; trong tuổi trẻ người ta hy vọng đạt tuổi thanh niên; trong tuổi thanh niên người ta hy vọng đạt tuổi trưởng thành; trong tuổi trưởng thành người ta hy vọng đạt tuổi già. Không chắc có đạt được nó không, nhưng người ta hy vọng. Trái lại tuổi già không có thời gian nào khác đàng trước để có thể hy vọng; cả chuỗi ngày của nó cũng không chắc chắn... Do ý Chúa tôi đã tới thành phố này trong tuổi sung sức của đời mình; nhưng tuổi trẻ của tôi đã qua rồi, và giờ đây tôi đã già" (Ep 213,1). Thánh Augustinô giới thiệu linh mục Eraclius là vị kế vị của ngài. Cộng đoàn vỗ tay tán đồng và lập lại 23 lần: "Xin cám tạ Thiên Chúa! Xin chúc tụng Chúa Kitô!". Ngoài ra, cộng đoàn còn vỗ tay tán đồng cho những ý định của ngài trong tương lai : thánh nhân muốn dành hết những năm cuối đời cho việc nghiên cứu sâu rộng Thánh Kinh (x. Ep 213, 6).
Thật vậy, bốn năm sau cùng là những năm của ngày tháng làm việc trí thức tuyệt vời: thánh nhân đã kết thúc các tác phẩm quan trọng, và bắt đầu các tác phẩm khác, công khai tranh luận công khai với các người rối đạo, luôn tìm đối thoại và can thiệp để đem lại hòa bình trong các tỉnh Phi châu bị các bộ tộc man rợ phía bắc quấy nhiễu. Chính trong chiều hướng đó thánh nhân đã viết thư cho quận công Darius đến Phi châu để giảng hòa giữa quận công Bonifacio với triều đình Roma, vì ông này đang bị các bộ lạc Mauri lợi dụng cho các lợi lộc của họ. Thánh Augustinô đã viết trong lá thư như sau: "Tước hiệu vinh quang lớn nhất là giết chết chiến tranh bằng lời nói, thay vì giết người bằng gươm, và đem lại hay duy trì hòa bình với hoà bình không phải bằng chiến tranh. Dĩ nhiên cả những người chiến đấu, nếu họ tốt lành, chắc chắn họ cũng tìm kiếm hòa bình, nhưng với giá cả của việc đổ máu. Còn ngài trái lại, ngài được mời đến để ngăn cản cảnh đổ máu của bất cứ ai " (Ep 229,2). Bất hạnh thay, những hy vọng hoà giải tại các vùng đất Phi châu thất bại: vào tháng 5 năm 429 rợ Vandal do chính quận công Bonifacio mang tới cứu viện, vượt eo biển Gibralta và tràn vào nước Mauritanie. Cuộc xâm lăng lan tràn nhanh chóng sang các tỉnh khác của Phi châu. Vào tháng 5 hay tháng 6 năm 430 "các người tàn phá đế quốc Roma" như Đức Cha Possidius ám chỉ về những kẻ man rợ này (Vie, 30, 1), đã bao vây thành phố Hippone.
Quận công Bonifacio đến ấn nấu trong thành phố và đã giao hoà quá trễ tràng với triều đình, ông đã bất lực cản trở đường tiến của quân xâm lăng. Tác giả Possidius mô tả nỗi đau của thánh Augustinô như sau: " Nước mắt đã là bánh ăn thường ngày của người và giờ đây tới lúc kiệt sức, hơn ai khác người lê bước trong đắng cay và buồn thương của tuổi già" (Vita 28,6). Và ông giải thích tiếp " Vì người của Thiên Chúa thấy các cuộc tàn sát và phá hủy các thành phố, nhà cửa tại đồng quê bị giật sập, dân chúng bị giết hay phải chạy trốn và tản mác; các nhà thờ không có linh mục và thừa tác viên, các trinh nữ và nữ tu sĩ bị phân tán tứ phía; trong đó có những vị chết vì bị tra tấn, vị khác nữa thì bị chết bằng gươm, vị khác nữa bị nhốt tù, mất sự toàn vẹn của linh hồn cũng như thân xác và cả lòng tin nữa, và bị quân thù bắt làm nô lệ" (ibid., 28,8).
Cả khi già cả và mệt mỏi thánh Augustinô vẫn ở trong vị thế chiến đấu, tự an ủi mình và người khác với lời cầu nguyện và với việc suy niệm các chương trình mầu nhiệm của Chúa Quan Phòng. Trong cái nhìn đó, thánh nhân nói về "thế giới già nua" - thế giới Roma già nua - như người đã làm nhiều năm trước đó để an ủi các người tị nạn từ Italia tới, khi quân rợ Goths vùng Alaric xâm lăng thành phố Roma. Trong tuổi già có nhiều bệnh tật: ho hen, bị hạn hẹp, âu lo và kiệt sức. Nhưng nếu thế giới có gìa đi, thì Chúa Kitô vẫn trẻ trung muôn thuở. Và thánh nhân mời gọi : " đừng khước từ trẻ trung trở lại bằng cách kết hiệp với Chúa Kitô là người nói với bạn: đừng sợ gì cả, tuổi xuân của bạn sẽ tươi trẻ khoẻ như đại bàng con" (x. Bài giảng 81,8). Như thế tín hữu không được ngã lòng, nhưng phải lo trợ giúp người cần được trợ giúp. Đó cũng là điều thánh nhân trả lời cho Đức Cha Honoré, Giám Mục Thiave, khi Đức Cha hỏi trong thời bị quân rợ xâm lăng thì một Giám Mục, Linh Mục hay người của Giáo Hội có thể trốn chạy để cứu lấy mạng mình hay không: "Khi nguy hiểm chung cho mọi người, nghĩa là cho các giám mục, linh mục và những người giáo dân, thì không được bỏ lại những người khác đang cần giúp đỡ. Trong trường hợp đó, mọi người đều có thể chạy đến các nơi an toàn; nhưng nếu có người cần được trợ giúp thì không được bỏ rơi họ, nhất là những người có nhiệm vụ thánh phải cùng trốn hay cùng chịu các tai ương khốn khó mà Cha gia đình muốn họ phải chịu" (Ep 228,2). Và thánh nhân kết luận: "Đó là bằng chứng cao cả nhất của tình yêu thương" (Ibid., 3). Dọc dài các thế kỷ, đã có biết bao nhiêu linh mục lắng nghe và thi hành sứ điệp này của thánh Augustinô.
Đang khi thành Hippone kháng cự quân thù. Nhà và tu viện của thánh Augustinô đã mở rộng cửa tiếp đón các Giám Mục xin tá túc, trong đó có cả Giám Mục Possidius, môn đệ của thánh Augustinô và là người đã để lại chứng từ trực tiếp liên quan tới các ngày cuối cùng của thánh nhân. Đức Cha Possidius kể rằng vào tháng thứ 3 của cuộc bao vây thánh Augustinô phải đi nằm vì bị sốt. Đó là cơn bệnh sau cùng của ngài ( Vie, 29, 3). Người lợi dụng lúc này để cầu nguyện nhiều hơn. Thánh nhân hay lập lại rằng không có ai, cho dù là Giám Mục, Linh Mục tu sĩ hay giáo dân, dù có cung cách sống xem ra không thể đáng trách thế nào đi nữa, mà có thể đối đầu với cái chết mà không cần sám hối một cách thích hợp. Vì thế người lập đi lập lại các thánh vịnh sám hối trong nước mắt, như đã làm nhiều lần với dân chúng (ibid, 31,2).
Bệnh càng nặng vị Giám Mục sắp chết càng cảm thấy cần thinh lặng và cầu nguyện : "Để khỏi bị quấy rầy khoảng 10 ngày trước khi qua đời, thánh nhân xin các người hiện diện đừng cho ai vào phòng ngoài giờ của các bác sĩ tới khám bệnh và lúc đem thức ăn. Ý muốn của người đã được thi hành và trong suốt thời gian đó thánh nhân đã cầu nguyện (ibid., 31,3). Người qua đời ngày 28 tháng 8 năm 430: sau cùng con tim cao cả của người đã an nghỉ trong Thiên Chúa.
Đức Cha Possidius cho chúng ta biết có thánh lễ an táng và mai táng thánh Augustinô (Vie 351, 5). Sau đó, xác của ngài được đưa về Sardaigne và năm 725 được đưa về Pavie, trong Vương cung thánh đường Thánh Phêrô trên trời vàng, nơi đây ngài vẫn còn an nghỉ. Cuốn tiểu sử đầu tiên về thánh nhân kết thúc như sau: "Ngài đã để lại một hàng giáo sĩ đông đúc cũng như các tu viện nam nữ đầy các người sống khiết tịnh và vâng lời các đấng bề trên, cùng với các thư viện chứa đầy sách và các diễn văn của ngài và của các vị thánh khác, qua đó nhờ ơn Chúa, người ta biết được công nghiệp và sự cao cả của người trong Giáo Hội, và trong đó các tín hữu luôn tìm thấy người còn sống (Vie 31,8). Với những lời này, phần chúng ta, chúng ta cũng thấy ngài vẫn sống. Khi cha đọc lại những tác phẩm của thánh Augustinô, cha không có ấn tượng rằng ngài là một người đã chết cách đây 16000 năm, nhưng cha cảm thấy người như là một người của ngày nay: một người bạn, một người đồng thời nói với cha, nói với chúng ta qua lòng tin tươi mát và thời sự của ngài... Thánh Augustinô nói với cha, nói với anh chị em trong những tác phẩm của ngài. Chúng ta thấy tính cách thời sự thường hằng nơi lòng tin của người, lòng tin đến từ Chúa Kitô, Ngôi Lời Vĩnh Cửu Nhập Thể, Con Thiên Chúa và Con của loài người. Và chúng ta có thể thấy rằng lòng tin này không phải là của hôm qua, cả khi đã được giảng dậy hôm qua; nó luôn luôn là của ngày hôm nay, vì Chúa Kitô thực sự là hôm nay hôm qua và mãi mãi. Ngài là Đường là Sự Thật và là Sự Sống. Như thế thánh Agostino khuyến khích chúng ta tin tưởng nơi Chúa Kitô luôn hằng sống và như vậy tìm ra con đường cuộc sống.
ĐỨC GIÁO HOÀNG BÊNÊĐICTÔ XVI
Ngày 30/01/2008
Bài giáo lý về thánh Augustinô (phần III)
Anh chị em thân mến,
Sau tuần lễ cầu nguyện cho sự hiệp nhất các kitô hữu, hôm nay chúng ta trở lại với khuôn mặt vĩ đại của thánh Augustinô. Đấng Tiền nhiệm khả kính của cha là Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã công bố tông thư rất phong phú, có tên là: "Augustinum Hipponensem" nhân dịp kỷ niệm 1600 năm ngày trở lại của Augustinô năm 1986. Ước muốn của Đức Gioan Phaolô II khi viết tông thư này như "việc cảm tạ Thiên Chúa về ơn đã ban cho Giáo hội và qua Giáo hội ban cho toàn thể nhân loại, với biến cố trở lại tuyệt với đó" (ASS, 74, 1982, tr. 802). Cha sẽ nói về chủ đề này trong lần gặp gỡ vào thứ tư tuần sau. Đó là một chủ đề nền tảng không chỉ đối với đời sống cá nhân của Augustinô mà còn đối với chúng ta nữa. Tin mừng ngày chủ nhật vừa rồi, Chúa tóm tắt lời rao giảng của ngài trong câu: "Anh chị em hãy sám hối". Lần theo con đường của thánh Augustinô, chúng ta có thể suy ngẫm thế nào là sám hối: đó là một chọn lựa quyết định, dứt khoát. Nhưng đó là một quyết định nền tảng và cần phải được thể hiện và thi hành trong suốt cuộc đời của chúng ta.
Bài giáo lý hôm nay dành cho chủ đề đức tin và lý trí. Đây là một chủ đề nền tảng, hay đúng hơn là chủ đề đặc thù trong tiểu sử của thánh Augustinô. Hồi nhỏ, thánh nhân đã nhận được lòng tin Công giáo nơi người mẹ Monica. Nhưng trong thời thiếu niên, ngài đã bỏ lòng tin ấy vì không nhận ra đặc tính hữu lý của nó và không muốn một tôn giáo lại không diễn tả lý trí, nghĩa là chân lý. Nối khao khát mãnh liệt chân lý của ngài đã làm cho ngài xa rời đức tin công giáo. Nhưng với lòng khao khát như thế, thánh nhân cũng không bằng lòng với các triết thuyết không dẫn đến chân lý, không dẫn đến Thiên Chúa. Và một Thiên Chúa không phải chỉ là một quan niệm vũ trụ học nhưng là môt vì Thiên Chúa thật, Ngài ban sự sống và đi vào cuộc sống của chúng ta. Như thế, tất cả hành trình thiêng liêng của thánh Augustinô làm thành một kiểu mẫu giá trị đối với chúng ta hôm nay trong tương quan giữa đức tin và lý trí. Chủ đề này không chỉ liên quan đến những người có lòng tin mà con liên quan đến hết những người tìm kiếm chân lý. Chủ đề trọng tâm đối với sự cân bằng và số phận của con người. Đức tin và lý trí, hai chiều kích này không được tách rời và đối chọi nhau, nhưng phải đi chung với nhau như thánh Augustinô sau khi hoán cải đã viết: lòng tin và lý trí là " hai sức mạnh dẫn đưa chúng ta đến chỗ hiểu biết" (Contra Academicos, III, 20, 43). Với cái nhìn như thế, thánh nhân đã để lại hai công thức nối tiếng (Sermones, 43, 9) diễn tả tổng hợp chặt chẽ giữa đức tin và lý trí: "crede ut intelligas" (tin để hiểu) – tin mở ra con đường để chúng ta vượt qua cánh cửa chân lý – nhưng liền theo đó là "intellige ut credas" (hiểu để tin), tìm hiểu kỹ càng chân lý để có thể tìm gặp Thiên Chúa và tin vào Ngài.
Hai khẳng định của thánh Augustinô diễn tả cách cấp thời, cụ thể với sự sâu sắc sự tổng hợp vấn đề mà Giáo hội Công giáo thấy diễn tả con đường riêng của mình. Trong cái nhìn lịch sử, tổng hợp này đã hình thành trước cả khi Đức Giêsu đến, trong cuộc gặp gỡ giữa đức tin Do thái giáo và tư tưởng Hy lạp trong Do thái giáo – Hy lạp. Sau đó, trong thời gian, tổng hợp này được lấy lại và khai triển bởi một số đông các nhà tư tưởng Kitô. Sự hài hài giữa đức tin và lý trí, trên hết có nghĩa là Thiên Chúa không xa lạ với lý trí và cuộc sống của chúng ta; Ngài gần gũi với hết mọi người, gần bên con tim và lý trí của chúng ta nếu như chúng ta thực sự lên đường tìm kiếm Ngài.
Một cách chính xác là sự gần gũi của Thiên Chúa với con người được thánh Augustinô nhận thấy một cách tuyệt vời. Sự hiện diện của Thiên Chúa trong con người vừa sâu đậm vừa mầu nhiệm, nhưng nó được nhận biết và khám phá trong chính nơi kín ẩn của mình. Thánh Augustinô khẳng định: "Bạn đừng đi ra ngoài, nhưng hãy trở vào trong chính mình; chân lý ở nơi con người nội tâm; và nếu bạn thấy rằng bản chất của bạn thay đổi, thì hãy vượt lên cao hơn chính bạn. Nhưng hãy nhớ khi bạn vượt lên cao hơn chính mình là bạn vượt cao hơn một linh hồn lý luận. Vì thế hãy hướng tới chỗ có ánh sáng mà lý trí thắp lên” (De vera religione, 39,72). Thánh nhân nhấn mạnh điều này trong một khẳng định nổi tiếng cuốn "Tự thuật" - tiểu sử thiêng liêng được viết với lời ca tụng Thiên chúa của Augustinô với những lời sau: "Lạy Chúa, Chúa đã tạo dựng nên chúng con cho Chúa và con tim chúng con không yên hàn tới khi được nghỉ ngơi trong Chúa" (I,1,1).
Xa rời Thiên Chúa cũng là xa rời chính mình. Thật vậy, tánh Augustinô nhận biết "Chúa ở trong tận cùng thẳm của con hơn là chính con, và ở trên cao hơn phần cao nhất của con - interior intimo meo et superior summo meo (Confessiones III,6,11)". Dù vậy, thánh nhân trong một chỗ khác khi ngài nhắc lại thời kỳ trước khi trở lại. ”Chúa ở trước con; còn con thì lại đã xa rời chính mình và không tìm ra mình nữa; và lại càng không tìm ra Chúa” (Confessiones V,2,2). Chính vì Augustinô đã sống hành trình trí thức và thiêng liêng đó, nên ngài biết cách diễn tả một các tức thời và sâu sắc và khôn ngoan sâu thẳm trong những tác phẩm của mình (Confessiones IV, 4, 9 et 14, 22), khi nhìn nhận rằng con người là "một bí ẩn lớn" và là "một vực thẳm" mà chỉ có Đức Kitô mới soi sáng và cứu độ. Đây là điều quan trọng một người xa rời Thiên Chúa thì cũng xa rời chính mình, xa lạ với chính mình và chỉ có thể tìm lại chính mình khi gặp gỡ với Thiên Chúa, và như thế đạt tới cái tôi đích thật cái căn tính đích thật của mình.
Trong tác phẩm Thành đô Thiên Chúa (De civitate Dei, XII, 27, thánh nhân nhấn mạnh rằng: Tự bản chất, con người mang tính xã hội, nhưng vì tật xấu nó cũng chống lại xã hội. Nhưng nó đã được Chúa Kitô, là Đấng Trung Gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người, cứu thoát. Người là "con đường đại đồng của sự tự do và của ơn cứu độ" như vị tiền nhiệm của cha là Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II lập lại trong tông thư Augustinum Hipponensem, 21: Ngoài con đường này, thánh nhân khẳng định, "không có ai đã tìm thấy tự do, không ai tìm thấy và sẽ tìm thấy tự do" (De civitate Dei X,32,2). Như là đấng trung gian duy nhất của ơn cứu rỗi, Chúa Kitô là đầu của Giáo Hội, và Giáo Hội được kết hiệp với đầu một cách nhiệm mầu đến độ thánh Augustinô khẳng định rằng: "Chúng ta đã trở thành Chúa Kitô. Thật vậy Ngài là đầu, chúng ta là chi thể, Ngài và chúng ta là con người toàn vẹn" (In Ioannis evengelium tarctatus, 21,8).
Là Dân Chúa và nhà Chúa, như thế trong nhãn quan của thánh Augustinô Giáo Hội được gắn liền với ý niệm về Thân Mình của Chúa Kitô, được xây dựng trên việc đọc lại Cựu Ước trong nhãn quan Kitô học và trên cuộc sống bí tích tập trung nơi Thánh Thể, trong đó Chúa trao ban Mình người cho chúng ta và biến đổi chúng ta trong Mình Người. Thật là điều nền tảng Giáo Hội là dân Thiên Chúa, trong nghĩa Kitô học chứ không phải trong nghĩa xã hội học. Giáo Hội được tháp nhập vào Chúa Kitô, là Đấng "cầu nguyện cho chúng ta, cầu nguyện trong chúng ta, và được chúng ta cầu nguyện; Ngài cầu nguyện cho cho chúng ta như là tư tế, cầu nguyện trong chúng ta như là đầu, và được chúng ta cầu nguyện như là Thiên Chúa chúng ta: vì thế chúng ta nhận ra nơi Người tiếng nói của chúng ta và nơi chúng ta tiếng nói của Người" (Enarrationes in Psalmos 85,1).
Trong phần kết luận của tông thư Augustinum Hipponensem, Đức Gioan Phaolo II hỏi thánh nhân có muốn nói gì với con người thời nay và trả lời với tư tưởng của thánh nhân trong một lá thư sau khi hoán cải. Thánh nhân viết: "Đối với tôi xem ra cần phải dẫn đưa con người tới niềm hy vọng để tìm ra chân lý” (Epistulae, 1,1); chân lý đó chính là Chúa Kitô, Thiên Chúa thật. Và Thánh Augustinô đã thưa lên với Chúa một trong những lời cầu tuyệt đẹp và nối tiếng sau đây (Confessiones X, 27, 38): "Ôi, con đã yêu Chúa muộn màng, hỡi vẻ đẹp cổ xưa biết bao nhiêu nhưng cũng mới mẻ biết bao nhiêu, con đã yêu Chúa muộn màng! Này, Chúa ở trong con nhưng con lại ở bên ngoài, và con tìm Chúa, con gieo mình vào trong những vẻ đẹp Chúa đã dựng nên, đã bị méo mó. Chúa đã ở với con nhưng con không ở với Chúa. Những sự vật đã giữ con xa Chúa, những sự vật mà nếu không ở trong Chúa thì chúng đã không hiện hữu. Chúa đã gọi con, Chúa đã kêu to và đã bẻ gẫy sự điếc lác của con, Chúa đã chiếu sáng, Chúa đã cho thấy sự rạng ngời của Chúa và Chúa đã đánh tan sự mù lòa của con, Chúa đã tỏa hương thơm và con đã hít thở và ngưỡng vọng Chúa, con đã nếm hưởng và đã đói khát, Chúa đã động tới con, và con bừng cháy trong sự bình an của Chúa".Thánh Augustinô đã gặp Chúa và sống kinh nghiệm gặp gỡ ấy trong suốt cuộc đời Ngài, kinh nghiệm gặp gỡ một Bản Vị, là Đức Giêsu, đã biến đổi cuộc sống của thánh nhân, cũng như đã biến đổi cuộc sống của nhiều người, nam cũng như nữ thuộc mọi thời đại được ơn gặp Chúa. Xin Chúa cũng ban cho chúng ta ơn đó và làm cho chúng ta tìm thấy sự bình an của Người.
Lm. Thiện Hưng chuyển dịch từ www.Zenit.org
Ngày 30/01/2008
Bài giáo lý về thánh Augustinô (phần III)
Anh chị em thân mến,
Sau tuần lễ cầu nguyện cho sự hiệp nhất các kitô hữu, hôm nay chúng ta trở lại với khuôn mặt vĩ đại của thánh Augustinô. Đấng Tiền nhiệm khả kính của cha là Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã công bố tông thư rất phong phú, có tên là: "Augustinum Hipponensem" nhân dịp kỷ niệm 1600 năm ngày trở lại của Augustinô năm 1986. Ước muốn của Đức Gioan Phaolô II khi viết tông thư này như "việc cảm tạ Thiên Chúa về ơn đã ban cho Giáo hội và qua Giáo hội ban cho toàn thể nhân loại, với biến cố trở lại tuyệt với đó" (ASS, 74, 1982, tr. 802). Cha sẽ nói về chủ đề này trong lần gặp gỡ vào thứ tư tuần sau. Đó là một chủ đề nền tảng không chỉ đối với đời sống cá nhân của Augustinô mà còn đối với chúng ta nữa. Tin mừng ngày chủ nhật vừa rồi, Chúa tóm tắt lời rao giảng của ngài trong câu: "Anh chị em hãy sám hối". Lần theo con đường của thánh Augustinô, chúng ta có thể suy ngẫm thế nào là sám hối: đó là một chọn lựa quyết định, dứt khoát. Nhưng đó là một quyết định nền tảng và cần phải được thể hiện và thi hành trong suốt cuộc đời của chúng ta.
Bài giáo lý hôm nay dành cho chủ đề đức tin và lý trí. Đây là một chủ đề nền tảng, hay đúng hơn là chủ đề đặc thù trong tiểu sử của thánh Augustinô. Hồi nhỏ, thánh nhân đã nhận được lòng tin Công giáo nơi người mẹ Monica. Nhưng trong thời thiếu niên, ngài đã bỏ lòng tin ấy vì không nhận ra đặc tính hữu lý của nó và không muốn một tôn giáo lại không diễn tả lý trí, nghĩa là chân lý. Nối khao khát mãnh liệt chân lý của ngài đã làm cho ngài xa rời đức tin công giáo. Nhưng với lòng khao khát như thế, thánh nhân cũng không bằng lòng với các triết thuyết không dẫn đến chân lý, không dẫn đến Thiên Chúa. Và một Thiên Chúa không phải chỉ là một quan niệm vũ trụ học nhưng là môt vì Thiên Chúa thật, Ngài ban sự sống và đi vào cuộc sống của chúng ta. Như thế, tất cả hành trình thiêng liêng của thánh Augustinô làm thành một kiểu mẫu giá trị đối với chúng ta hôm nay trong tương quan giữa đức tin và lý trí. Chủ đề này không chỉ liên quan đến những người có lòng tin mà con liên quan đến hết những người tìm kiếm chân lý. Chủ đề trọng tâm đối với sự cân bằng và số phận của con người. Đức tin và lý trí, hai chiều kích này không được tách rời và đối chọi nhau, nhưng phải đi chung với nhau như thánh Augustinô sau khi hoán cải đã viết: lòng tin và lý trí là " hai sức mạnh dẫn đưa chúng ta đến chỗ hiểu biết" (Contra Academicos, III, 20, 43). Với cái nhìn như thế, thánh nhân đã để lại hai công thức nối tiếng (Sermones, 43, 9) diễn tả tổng hợp chặt chẽ giữa đức tin và lý trí: "crede ut intelligas" (tin để hiểu) – tin mở ra con đường để chúng ta vượt qua cánh cửa chân lý – nhưng liền theo đó là "intellige ut credas" (hiểu để tin), tìm hiểu kỹ càng chân lý để có thể tìm gặp Thiên Chúa và tin vào Ngài.
Hai khẳng định của thánh Augustinô diễn tả cách cấp thời, cụ thể với sự sâu sắc sự tổng hợp vấn đề mà Giáo hội Công giáo thấy diễn tả con đường riêng của mình. Trong cái nhìn lịch sử, tổng hợp này đã hình thành trước cả khi Đức Giêsu đến, trong cuộc gặp gỡ giữa đức tin Do thái giáo và tư tưởng Hy lạp trong Do thái giáo – Hy lạp. Sau đó, trong thời gian, tổng hợp này được lấy lại và khai triển bởi một số đông các nhà tư tưởng Kitô. Sự hài hài giữa đức tin và lý trí, trên hết có nghĩa là Thiên Chúa không xa lạ với lý trí và cuộc sống của chúng ta; Ngài gần gũi với hết mọi người, gần bên con tim và lý trí của chúng ta nếu như chúng ta thực sự lên đường tìm kiếm Ngài.
Một cách chính xác là sự gần gũi của Thiên Chúa với con người được thánh Augustinô nhận thấy một cách tuyệt vời. Sự hiện diện của Thiên Chúa trong con người vừa sâu đậm vừa mầu nhiệm, nhưng nó được nhận biết và khám phá trong chính nơi kín ẩn của mình. Thánh Augustinô khẳng định: "Bạn đừng đi ra ngoài, nhưng hãy trở vào trong chính mình; chân lý ở nơi con người nội tâm; và nếu bạn thấy rằng bản chất của bạn thay đổi, thì hãy vượt lên cao hơn chính bạn. Nhưng hãy nhớ khi bạn vượt lên cao hơn chính mình là bạn vượt cao hơn một linh hồn lý luận. Vì thế hãy hướng tới chỗ có ánh sáng mà lý trí thắp lên” (De vera religione, 39,72). Thánh nhân nhấn mạnh điều này trong một khẳng định nổi tiếng cuốn "Tự thuật" - tiểu sử thiêng liêng được viết với lời ca tụng Thiên chúa của Augustinô với những lời sau: "Lạy Chúa, Chúa đã tạo dựng nên chúng con cho Chúa và con tim chúng con không yên hàn tới khi được nghỉ ngơi trong Chúa" (I,1,1).
Xa rời Thiên Chúa cũng là xa rời chính mình. Thật vậy, tánh Augustinô nhận biết "Chúa ở trong tận cùng thẳm của con hơn là chính con, và ở trên cao hơn phần cao nhất của con - interior intimo meo et superior summo meo (Confessiones III,6,11)". Dù vậy, thánh nhân trong một chỗ khác khi ngài nhắc lại thời kỳ trước khi trở lại. ”Chúa ở trước con; còn con thì lại đã xa rời chính mình và không tìm ra mình nữa; và lại càng không tìm ra Chúa” (Confessiones V,2,2). Chính vì Augustinô đã sống hành trình trí thức và thiêng liêng đó, nên ngài biết cách diễn tả một các tức thời và sâu sắc và khôn ngoan sâu thẳm trong những tác phẩm của mình (Confessiones IV, 4, 9 et 14, 22), khi nhìn nhận rằng con người là "một bí ẩn lớn" và là "một vực thẳm" mà chỉ có Đức Kitô mới soi sáng và cứu độ. Đây là điều quan trọng một người xa rời Thiên Chúa thì cũng xa rời chính mình, xa lạ với chính mình và chỉ có thể tìm lại chính mình khi gặp gỡ với Thiên Chúa, và như thế đạt tới cái tôi đích thật cái căn tính đích thật của mình.
Trong tác phẩm Thành đô Thiên Chúa (De civitate Dei, XII, 27, thánh nhân nhấn mạnh rằng: Tự bản chất, con người mang tính xã hội, nhưng vì tật xấu nó cũng chống lại xã hội. Nhưng nó đã được Chúa Kitô, là Đấng Trung Gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người, cứu thoát. Người là "con đường đại đồng của sự tự do và của ơn cứu độ" như vị tiền nhiệm của cha là Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II lập lại trong tông thư Augustinum Hipponensem, 21: Ngoài con đường này, thánh nhân khẳng định, "không có ai đã tìm thấy tự do, không ai tìm thấy và sẽ tìm thấy tự do" (De civitate Dei X,32,2). Như là đấng trung gian duy nhất của ơn cứu rỗi, Chúa Kitô là đầu của Giáo Hội, và Giáo Hội được kết hiệp với đầu một cách nhiệm mầu đến độ thánh Augustinô khẳng định rằng: "Chúng ta đã trở thành Chúa Kitô. Thật vậy Ngài là đầu, chúng ta là chi thể, Ngài và chúng ta là con người toàn vẹn" (In Ioannis evengelium tarctatus, 21,8).
Là Dân Chúa và nhà Chúa, như thế trong nhãn quan của thánh Augustinô Giáo Hội được gắn liền với ý niệm về Thân Mình của Chúa Kitô, được xây dựng trên việc đọc lại Cựu Ước trong nhãn quan Kitô học và trên cuộc sống bí tích tập trung nơi Thánh Thể, trong đó Chúa trao ban Mình người cho chúng ta và biến đổi chúng ta trong Mình Người. Thật là điều nền tảng Giáo Hội là dân Thiên Chúa, trong nghĩa Kitô học chứ không phải trong nghĩa xã hội học. Giáo Hội được tháp nhập vào Chúa Kitô, là Đấng "cầu nguyện cho chúng ta, cầu nguyện trong chúng ta, và được chúng ta cầu nguyện; Ngài cầu nguyện cho cho chúng ta như là tư tế, cầu nguyện trong chúng ta như là đầu, và được chúng ta cầu nguyện như là Thiên Chúa chúng ta: vì thế chúng ta nhận ra nơi Người tiếng nói của chúng ta và nơi chúng ta tiếng nói của Người" (Enarrationes in Psalmos 85,1).
Trong phần kết luận của tông thư Augustinum Hipponensem, Đức Gioan Phaolo II hỏi thánh nhân có muốn nói gì với con người thời nay và trả lời với tư tưởng của thánh nhân trong một lá thư sau khi hoán cải. Thánh nhân viết: "Đối với tôi xem ra cần phải dẫn đưa con người tới niềm hy vọng để tìm ra chân lý” (Epistulae, 1,1); chân lý đó chính là Chúa Kitô, Thiên Chúa thật. Và Thánh Augustinô đã thưa lên với Chúa một trong những lời cầu tuyệt đẹp và nối tiếng sau đây (Confessiones X, 27, 38): "Ôi, con đã yêu Chúa muộn màng, hỡi vẻ đẹp cổ xưa biết bao nhiêu nhưng cũng mới mẻ biết bao nhiêu, con đã yêu Chúa muộn màng! Này, Chúa ở trong con nhưng con lại ở bên ngoài, và con tìm Chúa, con gieo mình vào trong những vẻ đẹp Chúa đã dựng nên, đã bị méo mó. Chúa đã ở với con nhưng con không ở với Chúa. Những sự vật đã giữ con xa Chúa, những sự vật mà nếu không ở trong Chúa thì chúng đã không hiện hữu. Chúa đã gọi con, Chúa đã kêu to và đã bẻ gẫy sự điếc lác của con, Chúa đã chiếu sáng, Chúa đã cho thấy sự rạng ngời của Chúa và Chúa đã đánh tan sự mù lòa của con, Chúa đã tỏa hương thơm và con đã hít thở và ngưỡng vọng Chúa, con đã nếm hưởng và đã đói khát, Chúa đã động tới con, và con bừng cháy trong sự bình an của Chúa".Thánh Augustinô đã gặp Chúa và sống kinh nghiệm gặp gỡ ấy trong suốt cuộc đời Ngài, kinh nghiệm gặp gỡ một Bản Vị, là Đức Giêsu, đã biến đổi cuộc sống của thánh nhân, cũng như đã biến đổi cuộc sống của nhiều người, nam cũng như nữ thuộc mọi thời đại được ơn gặp Chúa. Xin Chúa cũng ban cho chúng ta ơn đó và làm cho chúng ta tìm thấy sự bình an của Người.
Lm. Thiện Hưng chuyển dịch từ www.Zenit.org
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét